leftcenterrightdel
 Quang cảnh Phiên họp (Ảnh: Vũ Hiếu).

Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 4, chiều 14/7, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

leftcenterrightdel
 Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành nội dung làm việc. (Ảnh: Vũ Hiếu).

Trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật và cho rằng, việc xây dựng Luật này nhằm khắc phục hạn chế, khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; thể chế hóa chủ trương của Đảng về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL); bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam...

Bổ sung một số đối tượng đặc thù

Dự thảo Luật gồm 5 chương với 42 điều (giữ nguyên số lượng chương và tăng 1 điều so với Luật PBGDPL năm 2012; trong đó sửa đổi, hoàn thiện nội dung của 40 điều, cơ bản giữ nguyên nội dung 1 điều và bổ sung 1 điều mới).

leftcenterrightdel
 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình. (Ảnh: Vũ Hiếu).

Dự thảo Luật PBGDPL (sửa đổi) quy định về quyền, nghĩa vụ, đối tượng, nội dung, hình thức, trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong truyền thông chính sách và PBGDPL; đồng thời áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài có liên quan đến PBGDPL. Dự thảo hoàn thiện một số chính sách của Nhà nước về PBGDPL để phù hợp với tình hình mới.

Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong PBGDPL, trong đó bổ sung trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan của Quốc hội, cơ quan báo chí, người sử dụng lao động, một số chủ thể, cá nhân như cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang nhân dân, luật sư, luật gia và cá nhân khác cung cấp dịch vụ pháp lý.

Đồng thời, dự thảo Luật kế thừa, hoàn thiện quy định về trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, đoàn thể... nhằm xác định rõ trách nhiệm và huy động hệ thống chính trị tham gia PBGDPL.

leftcenterrightdel
 Đồng chí Trần Hải Quân, Phó Viện trưởng VKSND tối cao (bên trái) tham dự Phiên họp. (Ảnh: Vũ Hiếu).

Liên quan đến Hội đồng phối hợp PBGDPL, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật quy định theo hướng: người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương căn cứ tình hình thực tiễn quyết định thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL của Bộ, cơ quan, tổ chức mình để tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL.

Về đối tượng đặc thù, kế thừa và điều chỉnh các nhóm đặc thù theo Luật hiện hành cho phù hợp với thực tiễn; đồng thời bổ sung một số đối tượng đặc thù là: người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người chấp hành xong hình phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật hoàn thiện quy định về giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân. Điểm mới của dự thảo Luật là quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm đưa nội dung, trang bị kiến thức pháp luật có liên quan đến ngành nghề đào tạo để tổ chức giảng dạy. Đồng thời, dự thảo Luật bổ sung trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo, cơ quan quản lý Nhà nước về PBGDPL.

Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cũng cho biết, dự thảo Luật bổ sung truyền thông chính sách và các phương thức PBGDPL hiện đại, chuyển đổi số; bổ sung các quy định về mục đích, nội dung, hình thức, nguyên tắc, trách nhiệm truyền thông chính sách và quy định các phương thức PBGDPL mới gắn với ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật.

Làm rõ cơ sở của việc không quy định thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL ở cấp xã

Trình bày Báo cáo Thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (UBPLTP) Phan Chí Hiếu cho biết, Thường trực UBPLTP và Thường trực các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật PBGDPL năm 2012 với cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn.

leftcenterrightdel
 Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo Thẩm tra. (Ảnh: Vũ Hiếu).

Về phạm vi điều chỉnh, Thường trực UBPLTP cơ bản tán thành với phạm vi điều chỉnh của Luật. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, việc bổ sung nội dung về truyền thông chính sách là không phù hợp với tên gọi của dự án Luật, do hoạt động truyền thông về “chính sách” thuộc giai đoạn xây dựng, chưa phải là quy định của pháp luật và nội dung này đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cùng với đó, có ý kiến cho rằng, phạm vi sửa đổi Luật như đề xuất là chưa giải quyết được những bất cập cơ bản của công tác PBGDPL; do đó, đề nghị nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng bổ sung các cơ chế hỗ trợ để người dân, doanh nghiệp chủ động, thuận tiện trong tiếp cận, tìm hiểu pháp luật.

Về đối tượng áp dụng, một số ý kiến trong Thường trực UBPLTP đề nghị cân nhắc bỏ quy định này do không thật sự cần thiết vì đều đã được xác định thông qua các quy định cụ thể tại từng chương, điều; việc đặt thêm một quy định chung về đối tượng áp dụng vừa gây trùng lặp, vừa không làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu, khách mời tham dự Phiên họp. (Ảnh: Vũ Hiếu).

Liên quan đến một số nội dung của dự thảo Luật, về Hội đồng phối hợp PBGDPL (Điều 7), đa số ý kiến trong Thường trực UBPLTP và Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu tán thành với quy định của dự thảo Luật.

Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị không quy định “cứng” việc thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL ở cấp tỉnh mà quy định tương tự như Hội đồng phối hợp PBGDPL ở Bộ, ngành để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc không quy định thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL ở cấp xã.

Đối với nội dung quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác PBGDPL của người đứng đầu Bộ, ngành Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, đề nghị chuyển sang quy định tại các điều luật khác cho phù hợp; đồng thời, cần rà soát để quy định rõ phạm vi trách nhiệm, tránh hiểu rằng cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức phổ biến đối với toàn bộ hệ thống pháp luật; phân định rõ trách nhiệm giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã, giữa Hội đồng nhân dân với Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Về PBGDPL thông qua ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo (Điều 13), Thường trực UBPLTP và Thường trực UBCTĐB đề nghị: rà soát, xác định rõ phạm vi áp dụng của quy định “cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện PBGDPL trên không gian mạng thông qua tài khoản đã được xác thực theo quy định của pháp luật”, bảo đảm không ảnh hưởng đến việc tổ chức, cá nhân thực hiện quyền được tiếp cận, chia sẻ, trao đổi thông tin pháp luật theo quy định của pháp luật;

Cùng với đó, đề nghị nghiên cứu hướng bổ sung cơ chế kiểm soát chất lượng nội dung PBGDPL trên không gian mạng, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với nội dung đăng tải; cơ chế kiểm tra, hậu kiểm và xử lý, cải chính, gỡ bỏ thông tin sai lệch.

Đối với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong PBGDPL, đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra trước khi cung cấp cho người dân, doanh nghiệp và xử lý kịp thời khi phát hiện thông tin không chính xác.

Liên quan đến, đối tượng đặc thù (Điều 16), Thường trực UBPLTP đề nghị nghiên cứu bổ sung: người bị phạt cải tạo không giam giữ, người cao tuổi, thanh thiếu niên, trẻ em vào nhóm đối tượng đặc thù; lao động di cư và người cư trú tại địa bàn mà điều kiện tiếp cận pháp luật hạn chế hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể.

Một số ý kiến đề nghị cân nhắc không nên quy định chung: người lao động có mức lương bằng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của pháp luật; người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất (khoản 2) là đối tượng đặc thù, vì số lượng người thuộc nhóm này rất lớn, tránh dàn trải nguồn lực, làm giảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm thực sự yếu thế cần được Nhà nước tập trung hỗ trợ...

Minh Khôi