    |
 |
| Quang cảnh phiên làm việc của Quốc hội tại Hội trường Diên Hồng, sáng 3/8 (Ảnh: CTTĐT Quốc hội). |
Sáng 3/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày tóm tắt Báo cáo thẩm tra dự án luật.
Tăng cường tự chủ cung cấp dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng nêu rõ, việc xây dựng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác hiệu quả tài nguyên và góp phần giữ vững an ninh năng lượng, chủ quyền quốc gia.
    |
 |
| Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Tờ trình (Ảnh: CTTĐT Quốc hội). |
Theo đó, dự án Luật Dầu khí tập trung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển ngành công nghiệp năng lượng, trong đó có ngành dầu khí; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; kế thừa, hoàn thiện các quy định hiện hành, bảo đảm tính ổn định và phù hợp với thực tiễn; đồng thời có chính sách phù hợp nhằm tăng cường tự chủ cung cấp dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 hiện hành và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81 ngày 03/4/2026, bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; Hoàn thiện quy định về hợp đồng dầu khí và hoạt động dầu khí; Chính sách ưu đãi dầu khí; Phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; Quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon. Đồng thời, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
    |
 |
| Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội). |
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật có 12 chương, 62 điều, cơ bản kế thừa các quy định của Luật Dầu khí năm 2022, đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về điều tra cơ bản về dầu khí, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng dầu khí, hoạt động dầu khí, ưu đãi đầu tư, kế toán, kiểm toán và chức năng, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung các quy định về khai thác tận thu, khung pháp lý về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của ngành dầu khí.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định, việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên dầu khí; đồng thời từng bước mở rộng không gian phát triển của ngành dầu khí gắn với dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên quốc gia
Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi khẳng định, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí với sự cần thiết như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.
    |
 |
| Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra (Ảnh: CTTĐT Quốc hội). |
Về hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO2; ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao; phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với triển khai hoạt động dầu khí, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý toàn diện, dài hạn để triển khai có hiệu quả các dự án CCS và dự án năng lượng ngoài khơi độc lập.
Về ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao, đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, làm rõ sự cần thiết, tính đặc thù, hợp lý và ý nghĩa của việc quy định nội dung này trong Luật Dầu khí. Trường hợp thực sự cần thiết, luật chỉ nên quy định nguyên tắc Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Các cơ chế, chính sách cụ thể và định hướng phát triển ngành thuộc thẩm quyền của Chính phủ; cần tiếp tục tạo điều kiện cho ngành phát triển tổng thể, chiến lược và dài hạn.
Về các quy định tăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, các quy định của dự thảo thể hiện sự thay đổi lớn về mô hình quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn, không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ, dự thảo đã sửa theo hướng Bộ Công Thương là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nội dung hợp đồng, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý đặc thù, bảo đảm hiệu quả, đồng bộ, phân định rõ ràng theo từng nhóm chủ thể.
    |
 |
| Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội). |
Theo đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị rà soát nội dung phân quyền cho Bộ Công Thương, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền theo Luật Tổ chức Chính phủ, xác định rõ trách nhiệm xuyên suốt của Bộ trong quản lý nhà nước về dầu khí và đối với nội dung hợp đồng được ký kết. Đối với thẩm quyền chấp thuận chủ trương dự án phát triển, phát triển mỏ có chuỗi đồng bộ công trình, thiết bị trên đất liền và trên biển, cần có quy định rõ ràng, cơ sở pháp lý vững chắc vì liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và loại quy hoạch khác nhau.
Rà soát việc giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia bảo đảm hợp lý, khả thi; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế và điều kiện tương xứng để thực hiện nhiệm vụ được giao. Cần làm rõ phạm vi trách nhiệm và giá trị ràng buộc của các ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí đối với quyết định của Tập đoàn về miễn giảm hoặc chuyển đổi thực hiện cam kết công việc trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc bất khả kháng.
Làm rõ cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với việc phân quyền, giao quyền, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên quốc gia; rà soát khoản 7 Điều 6 về nội dung, chủ thể báo cáo. Trường hợp thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ thì thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Về ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành chủ trương Thủ tướng Chính phủ quyết định ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất dầu thô và mức thu hồi chi phí tối đa theo Kết luận số 101 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng.
Tuy nhiên, cần bổ sung thông tin thực tiễn về các lô, mỏ thuộc diện áp dụng, quy định rõ tiêu chí, đối tượng và điều kiện thực hiện. Đồng thời, cần thuyết minh căn cứ lựa chọn mức ưu đãi đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu khí; hoàn thiện điểm c khoản 1 Điều 45 bảo đảm thống nhất với Báo cáo số 411 của Chính phủ và Quỹ bảo đảm nghĩa vụ dọn dẹp công trình chỉ sử dụng để chi trả chi phí dọn dẹp công trình.
Về hợp đồng dầu khí, cơ quan thẩm tra đề nghị hoàn thiện quy định về hợp đồng dầu khí, làm rõ trường hợp thay đổi nội dung dẫn đến điều chỉnh hợp đồng, thực hiện quy định tại Điều 18 và thuộc thẩm quyền phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí với trường hợp không phải điều chỉnh hợp đồng…