Quy chế này quy định về mục đích, nguyên tắc, thẩm quyền và quy trình kiểm tra trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Quy chế này áp dụng đối với VKSND các cấp; công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân và cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan.

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương quy định về việc kiểm tra trong hệ thống Viện kiểm sát quân sự.

Mục đích, nguyên tắc hoạt động kiểm tra

Về mục đích hoạt động kiểm tra, Quy chế nêu rõ, việc kiểm tra nhằm xem xét, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật, quy định của VKSND đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý.

Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, quy chế nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả công tác, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh thiếu sót vi phạm; nâng cao năng lực, trách nhiệm cán bộ và tăng cường sự lãnh đạo, điều hành nội bộ; góp phần kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Qua kiểm tra, yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan thanh tra có thẩm quyền tiến hành thanh tra khi cần thiết; nếu có dấu hiệu tội phạm thì kiến nghị khởi tố và chuyển hồ sơ vụ việc, tài liệu có liên quan đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét, giải quyết theo quy định.

Bên cạnh đó, Quy chế nêu rõ nguyên tắc hoạt động kiểm tra. Cụ thể, thực hiện đúng nội dung, thẩm quyền, yêu cầu thực tế và đáp ứng mục tiêu quản lý công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.

Bảo đảm các VKSND, đơn vị, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý đều được kiểm tra. Tập trung kiểm tra lĩnh vực công tác còn để xảy ra thiếu sót, vi phạm, chỉ tiêu chưa đạt hoặc theo yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý.

Bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, đúng pháp luật, quy định của VKSND và hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra. Trường hợp trùng lặp nội dung, đối tượng kiểm tra hoặc đồng thời có quyết định kiểm tra theo kế hoạch và có quyết định kiểm tra đột xuất thì thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền cao hơn, trường hợp cùng thẩm quyền thì ưu tiên kiểm tra đột xuất.

Bảo đảm sự phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan; không gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra; không trùng lặp, chồng chéo với các hoạt động thanh tra.

Bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật công tác trong hoạt động kiểm tra.

Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số theo quy định của pháp luật, quy định của VKSND.

leftcenterrightdel
 Quang cảnh một buổi làm việc của Đoàn kiểm tra VKSND tối cao kiểm tra về công tác nghiệp vụ tại VKSND Khu vực 16, TP Hồ Chí Minh. (Ảnh minh hoạ)

Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kiểm tra

Về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kiểm tra, Quy chế nêu rõ các hành vi gồm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà cho đối tượng kiểm tra.

Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của đối tượng kiểm tra.

Sử dụng trái pháp luật thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm tra.

Bao che cho cơ quan, đơn vị, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; vi phạm quy định của VKSND.

Cản trở, chống đối, mua chuộc, đe dọa, uy hiếp người thi hành công vụ trong quá trình kiểm tra.

Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không đầy đủ, không kịp thời, không trung thực, thiếu chính xác cho Đoàn kiểm tra; che giấu, tiêu hủy, giả mạo tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung kiểm tra.

Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật và của VKSND.

Thẩm quyền, đối tượng và nội dung kiểm tra

Mặt khác, Quy chế cũng quy định về thẩm quyền kiểm tra và đối tượng kiểm tra. Cụ thể, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND tối cao kiểm tra đối với: Các Cục, Vụ, Viện và tương đương thuộc VKSND tối cao; VKSND tỉnh, thành phố (gọi chung là VKSND cấp tỉnh).

Lãnh đạo Cục, Vụ, Viện và tương đương; lãnh đạo VKSND cấp tỉnh; lãnh đạo VKSND khu vực khi cần làm rõ nội dung kiểm tra đối với VKSND cấp tỉnh.

Thủ trưởng, Phó thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao kiểm tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao đối với: Các phòng trực thuộc; các đơn vị thuộc VKSND cấp tỉnh; VKSND khu vực khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng hoặc để làm rõ nội dung kiểm tra đối với cấp tỉnh.

Lãnh đạo cấp phòng; công chức, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh kiểm tra đối với: Các đơn vị thuộc VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực; lãnh đạo cấp phòng thuộc VKSND cấp tỉnh, lãnh đạo VKSND khu vực, công chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng nghiệp vụ và tương đương thuộc VKSND cấp tỉnh kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của VKSND khu vực và công chức, người lao động theo sự phân công của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND khu vực kiểm tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao đối với công chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

Thủ trưởng, Phó thủ trưởng đơn vị thuộc VKSND khu vực kiểm tra theo sự phân công của Viện trưởng VKSND khu vực.

Nội dung kiểm tra gồm kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật; chỉ thị, chương trình, kế hoạch công tác, quy chế, quy định của VKSND về các công tác sau:

Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ; công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

Công tác tổ chức cán bộ, thi đua, khen thưởng, ứng xử khi thi hành công vụ, kỷ luật nội vụ; công tác quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong ngành Kiểm sát nhân dân; công tác khác theo yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý.

Ngoài ra, Quy chế cũng nêu rõ về hình thức, phương pháp kiểm tra. Theo đó, người có thẩm quyền quyết định kiểm tra theo quy định tại Điều 7 của Quy chế này có thể áp dụng một trong các hình thức kiểm tra sau: Kiểm tra theo kế hoạch; kiểm tra đột xuất; yêu cầu đối tượng tự kiểm tra; nghe đối tượng kiểm tra báo cáo; kiểm tra chéo; kiểm tra liên ngành, liên đơn vị.

Người có thẩm quyền quyết định kiểm tra, Đoàn kiểm tra có thể áp dụng một hoặc kết hợp các phương pháp kiểm tra sau: Kiểm tra trực tiếp; kiểm tra trực tuyến, từ xa; kiểm tra dựa trên dữ liệu điện tử.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế Quyết định số 160/QĐ-VKSTC-T1 ngày 30/3/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác kiểm tra trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Về thời hạn kiểm tra, Quy chế nêu: Thời hạn thực hiện một cuộc kiểm tra do người ra quyết định kiểm tra quyết định nhưng không quá 5 ngày làm việc đối với một cơ quan, đơn vị, cá nhân; trường hợp phức tạp cần thiết phải kéo dài thì người quyết định kiểm tra quyết định gia hạn một lần không quá 5 ngày làm việc. Thời hạn của cuộc kiểm tra được tính từ ngày công bố quyết định kiểm tra đến ngày kết thúc hoạt động kiểm tra tại cơ quan, đơn vị, cá nhân được kiểm tra. Trường hợp cuộc kiểm tra bị gián đoạn do trở ngại khách quan, thì thời gian gián đoạn không tính vào thời hạn cuộc kiểm tra.
P.V