Thời gian qua, việc áp dụng thống nhất pháp luật trong giải quyết các vụ án ma túy luôn là vấn đề được các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt quan tâm. Thực tiễn xét xử cho thấy, một số tình huống phát sinh còn có cách hiểu khác nhau hoặc gây lúng túng khi áp dụng pháp luật.
    |
 |
| Kiểm sát viên VKSND tỉnh Gia Lai thực hành quyền công tố tại phiên tòa. |
Theo nội dung hướng dẫn của TAND tối cao, trong trường hợp Nguyễn Văn A đưa tiền cho Nguyễn Văn B để mua ma túy về sử dụng. B mua ma túy từ người khác rồi trên đường mang giao cho A thì bị bắt giữ. B bị xác định phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đồng thời, A cũng bị xác định là đồng phạm của tội danh này. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng, A không phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vì chưa thực hiện hành vi cất giữ, cất giấu ma túy. Cách nhận định này đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục phân tích dưới góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Trên cơ sở đối chiếu với hướng dẫn tại Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của TAND tối cao, đồng chí Võ Văn Cường, Kiểm sát viên VKSND tỉnh Gia Lai đã có trao đổi nghiệp vụ liên quan đến việc xác định tội danh đối với người mua ma túy sử dụng.
Theo quan điểm của đồng chí Võ Văn Cường, hướng dẫn nêu trên còn phát sinh một số vướng mắc cả về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật.
Về xác định đồng phạm, khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự quy định đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Điều này đòi hỏi giữa các chủ thể phải có sự thống nhất ý chí đối với cùng một hành vi phạm tội. Trong khi đó, mục đích của A chỉ là mua ma túy để sử dụng cá nhân, còn B là mua để bán lại nhằm hưởng lợi. Như vậy, mục đích của hai người là khác nhau, không có sự thống nhất ý chí đối với hành vi “mua bán trái phép chất ma túy”.
Một vấn đề khác được đặt ra là việc áp dụng chế định phạm tội chưa đạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo Điều 15 Bộ luật Hình sự, phạm tội chưa đạt là trường hợp người phạm tội cố ý thực hiện hành vi nhưng không thực hiện được đến cùng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn. Trong tình huống trên, A đã giao tiền, thỏa thuận việc mua ma túy và mong muốn nhận được ma túy để sử dụng, nhưng việc chưa nhận được là do B bị bắt giữ. Theo quan điểm của Kiểm sát viên Võ Văn Cường, trường hợp này A phạm tội chưa đạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đồng chí Võ Văn Cường cũng cho rằng, nếu áp dụng theo hướng dẫn tại Công văn số 250/TANDTC-PC sẽ phát sinh những bất cập trong chính sách hình sự và không đảm bảo nguyên tắc công bằng. Bởi lẽ, tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là tội cấu thành hình thức, chỉ cần có hành vi nhằm mục đích mua bán là đã cấu thành tội phạm, không phụ thuộc khối lượng ma túy. Trong khi đó, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cấu thành vật chất. Nếu thực hiện theo hướng dẫn này thì A (chưa nhận được ma túy) thì bị xử lý về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng nếu A đã nhận được ma túy mà khối lượng không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 249 thì A chỉ bị xử lý hành chính. Như vậy, phát sinh một nghịch lý là: Hành vi trong tội phạm chưa đạt lại bị xử lý hình sự nghiêm khắc hơn hành vi trong tội phạm đã hoàn thành nhưng không đủ định lượng.
Kiểm sát viên Võ Văn Cường cũng đặt ra giả thuyết, giả sử A nhờ B mua một lượng ma túy đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự và A đã nhận ma túy, hành vi của A bị xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, nếu A chưa nhận được ma túy (do bị bắt giữ trước), theo hướng dẫn lại bị xử lý về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy, cùng một mục đích, cùng một quá trình thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ khác nhau ở thời điểm bị phát hiện lại dẫn đến hai tội danh hoàn toàn khác nhau. Điều này làm phát sinh sự thiếu thống nhất và có thể dẫn đến áp dụng pháp luật không công bằng trong thực tiễn xét xử.
Thực tiễn còn phát sinh trường hợp B nhận tiền của A để mua ma túy nhưng thực tế mua phải chất không phải là ma túy nhưng tin đó là ma túy và đi giao cho A thì bị bắt. Trong trường hợp này, nếu A chưa nhận được “ma túy”, theo hướng dẫn hiện hành có thể bị xác định là đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với B, nhưng nếu A đã nhận được “ma túy giả” thì hành vi của A lại không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do đối tượng tác động không phải là chất ma túy, đồng thời cũng không bị xử lý hành chính. Như vậy, lại phát sinh nghịch lý đó là A chưa nhận được “ma túy” thì bị xử lý hình sự, nhưng A đã nhận “ma túy giả” thì không bị xử lý hình sự, thậm chí không bị xử lý hành chính. Điều này cho thấy sự thiếu hợp lý trong việc đánh giá tính nguy hiểm của hành vi, khi trạng thái chưa hoàn thành lại bị xử lý nghiêm khắc hơn trạng thái đã hoàn thành.
Ngoài ra, việc thay đổi cách định tội danh so với thực tiễn cũng dẫn đến nguy cơ phát sinh tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung với số lượng lớn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án và ảnh hưởng đến tiến độ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp tại địa phương.
Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên Võ Văn Cường cho rằng, việc xác định đúng tội danh không chỉ là yêu cầu kỹ thuật pháp lý mà còn là thước đo của công lý. Một hướng dẫn nghiệp vụ, nếu chưa thật sự phù hợp với bản chất hành vi và thực tiễn áp dụng, có thể kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do đó, việc tiếp tục trao đổi, hoàn thiện các hướng dẫn liên quan đến tội phạm ma túy là cần thiết, nhằm bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời củng cố niềm tin của xã hội vào hoạt động tư pháp./.