Theo đó, Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a, 3b vào sau Điều 3 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm giải trình và hình thức giải trình. Theo đó nguyên tắc giải trình phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan và công khai, minh bạch. Đặc biệt, việc thực hiện trách nhiệm giải trình phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, tổ chức.
Về hình thức giải trình, được thực hiện qua hai hình thức là giải trình trực tiếp tại các cuộc họp/buổi làm việc hoặc giải trình bằng văn bản (văn bản giấy hoặc môi trường điện tử).
Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 5a vào sau Điều 5 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định về 7 hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình như sau: Không thực hiện giải trình khi có yêu cầu hợp pháp; Cố ý giải trình không đầy đủ, không trung thực; Cố ý kéo dài thời gian giải trình; Cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin hoặc cản trở việc thực hiện yêu cầu giải trình; Cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ không báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về yêu cầu giải trình, nội dung giải trình và việc thực hiện trách nhiệm giải trình; Cung cấp thông tin không được phép công khai; cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm giải trình; Không lưu trữ, quản lý hồ sơ giải trình theo quy định của pháp luật.
    |
 |
| Quang cảnh một buổi bốc thăm lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh tài sản thu nhập năm 2025 do Thanh tra Thành phố Hà Nội chủ trì. (Ảnh minh hoạ: Hải Hà) |
Bên cạnh đó, Nghị định 184/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình. Trong đó, điểm đáng chú ý là việc người đứng đầu phải "chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình" trong cơ quan, đơn vị mình. Quy định cũ tại Nghị định số 59/2019/NĐ-CP chỉ dừng lại ở việc kiểm tra và xử lý vi phạm của cấp dưới mà chưa nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.
Mặt khác, tại Điều 7 cũng bổ sung thêm trách nhiệm cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ. Theo đó, cá nhân phải chủ động thực hiện giải trình với người yêu cầu. Phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giải trình; phải báo cáo người đứng đầu về yêu cầu giải trình và kết quả thực hiện. Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và trước pháp luật về nội dung giải trình của mình.
Ngoài ra, Nghị định 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a vào sau Điều 7 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định trách nhiệm xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình. Theo đó, Thanh tra Chính phủ ban hành Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ để hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ cho ngành, lĩnh vực mình quản lý.
Nội dung đánh giá tập trung vào các nhóm tiêu chí gồm: tính đầy đủ, kịp thời, chính xác của việc giải trình; mức độ tuân thủ trình tự, thủ tục; mức độ công khai, minh bạch trong giải trình; mức độ đáp ứng yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải trình và đặc biệt là việc xử lý các vi phạm trong thực hiện giải trình.
Kết quả đánh giá này phải được công khai theo quy định của pháp luật để làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
Thêm vào đó, Nghị định bổ sung một chương mới (Chương Va) gồm 5 điều (39a, 39b, 39c, 39d, 39đ) để phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan thanh tra trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Cụ thể:
Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng đối với người giữ chức vụ từ Thứ trưởng trở lên; người công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, doanh nghiệp do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý; người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương…
Thanh tra Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
Thanh tra tỉnh có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Cùng với đó, Điều 39đ của Chương này cũng quy định rõ trách nhiệm khi thanh tra, các cơ quan phải làm rõ hành vi tham nhũng, thiệt hại kinh tế, vai trò của người đứng đầu và kiến nghị hình thức xử lý cũng như các biện pháp xử lý tài sản tham nhũng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.