Một trong những yêu cầu đặt ra trong cải cách tư pháp là nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động Tố tụng hành chính, tố tụng dân sự trong đó có việc đảm bảo giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động… theo đúng quy định của pháp luật; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan tư pháp.
    |
 |
| Toàn cảnh buổi thảo luận VKSND tỉnh Thái Nguyên. |
Trước yêu cầu đó, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng công tác bố trí, sắp xếp cán bộ, cử các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng, tập huấn do Ngành cấp trên tổ chức để nâng cao nghiệp vụ cho công chức làm công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động. Chỉ đạo Kiểm sát viên tự nghiên cứu, nắm chắc Luật tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hiện hành để áp dụng trong thực tiễn công tác, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của khâu công tác này.
Tuy nhiên, qua công tác tổng kết hàng năm, các đợt kiểm tra nghiệp vụ thấy rằng bên cạnh những kết quả tích cực trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động thì công tác kiểm sát án tạm đình chỉ trong lĩnh vực này của một số đơn vị, một số Kiểm sát viên chất lượng chưa cao. Tình trạng các vụ án bị tạm đình chỉ thiếu căn cứ, không đúng quy định pháp luật không được kiểm sát chặt chẽ, không kịp thời phục hồi giải quyết hoặc án bị kéo dài, quá hạn giải quyết vẫn còn xảy ra; gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tình trạng này gây ra trì trệ hoạt động giải quyết các tranh chấp, làm giảm hiệu quả, chất lượng xét xử, ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, làm phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài.
Một số giải pháp: Thứ nhất, tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Tiếp tục quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc các nội dung của Luật tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng dân sự, Quy chế nghiệp vụ của ngành, Thông tư liên tịch, các văn bản pháp luật được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động; Quyết định số 282/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính; Quyết định số 286/QĐ-VKSTC ngày 08/7/2019 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành quy định về quy trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính; Quyết định số 436/QĐ-VKSTC ngày 28/11/2025 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự; Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 18/10/2022 của Viện trưởng VKSNDTC về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự; Chỉ thị số 07/CT-VKSTC ngày 06/8/2021 của Viện trưởng VKSNDTC về tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hành chính, vụ việc dân sự. Thực hiện tốt các chỉ tiêu nghiệp vụ của Quốc hội và Ngành, nhất là các chỉ tiêu về kháng nghị phúc thẩm, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá hàng năm theo tinh thần chỉ đạo của Viện trưởng VKSNDTC.
Lãnh đạo các đơn vị cần có những giải pháp đổi mới trong việc chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với lĩnh vực công tác này. Hàng tháng cử cán bộ, Kiểm sát viên phối hợp với Tòa án tiến hành rà soát số liệu án tạm đình chỉ giải quyết để tìm cách tháo gỡ, khắc phục lý do án tạm đình chỉ, đôn đốc yêu cầu Tòa án tiến hành tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn.
Thứ hai, tăng cường và nâng cao trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên. Kiểm sát viên khi được phân công nhiệm vụ cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, kiểm sát chặt chẽ trình tự thủ tục tố tụng của vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động do Tòa án tiến hành; có phương pháp làm việc khoa học, chủ động, linh hoạt, nắm vững quá trình giải quyết vụ án, vụ việc; tập trung phát hiện những vi phạm, thiếu sót trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc để kịp thời tham mưu Lãnh đạo Viện thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Nâng cao chất lượng trong việc xây dựng hồ sơ kiểm sát, trong đó Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các lý do, căn cứ tạm đình chỉ, điều luật áp dụng, hình thức và nội dung cũng như thẩm quyền ban hành. Hồ sơ kiểm sát phải lưu giữ đầy đủ các tài liệu tố tụng, tài liệu chứng cứ, báo cáo đề xuất, phiếu kiểm sát của Kiểm sát viên ở từng giai đoạn và ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị. Chủ động phối hợp trong việc mượn hồ sơ hoặc yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ để nghiên cứu kiểm sát quyết định trong trường hợp phát hiện vi phạm, kịp thời kháng nghị, kiến nghị theo quy định. Tiếp tục xác định kháng nghị, kiến nghị là quyền năng pháp lý quan trọng, kịp thời phát hiện vi phạm để tham mưu với lãnh đạo thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, đảm bảo quá trình giải quyết các vụ án của Tòa án được thực hiện có căn cứ, đúng pháp luật.
Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ 100% các bản án, quyết định theo quy định; theo sát tiến trình tố tụng của Tòa án, tránh việc kiểm sát hời hợt, qua loa, hình thức. Đối với vụ án, vụ việc Tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án; điều này thể hiện năng lực, trình độ của Kiểm sát viên và cũng thể hiện uy tín, trách nhiệm của ngành Kiểm sát trước nhân dân. Việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có ý nghĩa rất quan trọng; mang tính chất quyết định tới chất lượng giải quyết án. Mỗi Kiểm sát viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trong khâu công tác này, đặc biệt là đối với các vụ, việc đang tạm đình chỉ là loại những vụ, việc chưa được giải quyết dứt điểm. Mỗi Kiểm sát viên cần nhận thức sâu sắc “Tạm đình chỉ” là gì? (là việc Tòa án tạm ngừng các hoạt động tố tụng trong một khoảng thời gian nào đó, khi nào lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì Tòa án tiếp tục giải quyết và quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án không phải là quyết định cuối cùng); việc Tòa án “tạm đình chỉ” căn cứ vào lý do gì? căn cứ đó có thật sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án hay không? căn cứ đó có đúng quy định của pháp luật không?... Chỉ khi nghiên cứu kỹ hồ sơ mới hiểu được căn cứ, lý do tạm đình chỉ; nội dung mà Tòa án yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu hoặc Tòa án ủy thác cơ quan, địa phương khác thu thập chứng cứ đồng thời mới nhận diện được chính xác sự cần thiết của việc Tòa án yêu cầu các cơ quan có liên quan, tổ chức, cá nhân, cung cấp tài liệu chứng cứ để giải quyết các vụ việc.
Thứ ba, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với Tòa án và các cơ quan hữu quan trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động. Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới trong việc gửi bản án, quyết định, chuyển hồ sơ vụ án, vụ việc; trao đổi thông tin kịp thời đối với các vụ án, vụ việc có khó khăn, vướng mắc. Đối với những vụ án, vụ việc phức tạp, có vướng mắc về áp dụng pháp luật thì kịp thời xin ý kiến thỉnh thị của Viện kiểm sát cấp trên để có hướng dẫn, chỉ đạo nhằm giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Phòng nghiệp vụ tiếp tục làm tốt công tác theo dõi, hướng dẫn nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ của Kiểm sát viên hai cấp.
Chủ động rà soát, theo dõi sát sao đối với quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc theo trình tự tố tụng của Tòa án. Tích cực phối hợp, kiểm sát chặt chẽ việc Tòa án đôn đốc cơ quan, cá nhân, tổ chức khắc phục lý do tạm đình chỉ, có biện pháp để phục hồi giải quyết, tránh tình trạng các vụ việc bị tạm đình chỉ quá lâu. Trao đổi thông tin kịp thời đối với các vụ việc phức tạp, có khó khăn, vướng mắc, những vụ án phải tạm đình chỉ nhiều lần, dự báo các tình huống ngay từ đầu để chủ động phối hợp với Tòa án và các cơ quan hữu quan nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết, tránh việc để án tồn đọng, kéo dài.
Thứ tư, tăng cường và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ. Thủ trưởng các đơn vị VKSND thuộc tỉnh Thái Nguyên tăng cường hơn nữa việc chỉ đạo công chức thuộc quyền quản lý chủ động đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động tạm đình chỉ đồng thời thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các phần mềm về ứng dựng công nghệ thông tin, chuyển đổi số theo hướng dẫn của ngành, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ công tác chuyên môn.
Các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trực tiếp kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động có thể áp dụng công nghệ thông tin trên hệ thống máy tính để theo dõi, thống kê số vụ, việc tạm đình chỉ đồng thời trên cơ sở đó sẽ thuận tiện trong việc có kế hoạch, biện pháp đối với các vụ án, vụ việc Tòa án tạm đình chỉ thời gian đã lâu mà chưa có hướng giải quyết dẫn tới số vụ, việc bị tồn đọng, kéo dài. Một số biện pháp đã áp dụng như: Số các vụ án do Tòa án cấp sơ thẩm tạm đình chỉ giải quyết theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự được lập danh sách trên hệ thống máy tính, gồm các nội dung: Số, ngày Tòa án thụ lý vụ việc; Họ tên đương sự; Loại vụ việc; Quyết định tạm đình chỉ (số, ngày, tháng, năm); Lý do tạm đình chỉ; Thời điểm tạm đình chỉ (từ ngày, tháng, năm); Quyết định tiếp tục giải quyết vụ việc (số, ngày, tháng, năm); Thẩm phán giải quyết vụ việc. Với bảng danh sách và hệ thống thông tin tại các cột mục như trên sẽ giúp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên dễ dàng theo dõi số vụ án tạm đình chỉ khi kết thúc mỗi kỳ thống kê tháng, quý năm; thuận tiện cho công tác báo cáo, thống kê, tổng hợp và thuận tiện cho việc đối chiếu số liệu với Tòa án khi kết thúc mỗi kỳ thống kê. Khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc quyết định tiếp tục giải quyết vụ án kịp thời cập nhật vào bảng theo dõi để nắm bắt được trong kỳ (tháng, quý, năm) có bao nhiêu vụ án tạm đình chỉ, bao nhiêu vụ án tiếp tục được đưa ra giải quyết khi lý do tạm đình chỉ không còn. Trên cơ sở bảng tổng hợp giúp dễ dàng nhận biết các vụ, việc còn đang tạm đình chỉ hoặc thời gian tạm đình chỉ đã lâu, từ đó có biện pháp tác động, trao đổi, đôn đốc với Thẩm phán trực tiếp giải quyết có phương án phục hồi khi lý do tạm đình chỉ không còn để các vụ, việc được giải quyết dứt điểm; hạn chế thấp nhất tình trạng án tồn đọng, kéo dài.