Thực tiễn cho thấy, để một kháng nghị được ban hành đúng, trúng và được Tòa án chấp nhận, bên cạnh năng lực của Kiểm sát viên còn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Viện kiểm sát hai cấp.
Tại địa bàn phía Nam, Viện Công tố và Kiểm sát xét xử tại TP Hồ Chí Minh (Viện Phúc thẩm 3) có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh trong khu vực.
Những năm qua, việc tăng cường phối hợp giữa hai cấp Kiểm sát, đặc biệt trong công tác ban hành và bảo vệ kháng nghị phúc thẩm, đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Phối hợp chặt chẽ – nền tảng của kháng nghị chất lượng
Để ban hành một kháng nghị có căn cứ, Kiểm sát viên không chỉ cần tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp mà còn phải chủ động trao đổi, xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ từ cấp trên, nhất là đối với các vụ án hành chính, đất đai có tính chất phức tạp, nhiều quan hệ pháp lý đan xen. Thông qua cơ chế trao đổi hồ sơ, thỉnh thị, họp liên ngành và hướng dẫn nghiệp vụ, Viện kiểm sát cấp trên đã kịp thời hỗ trợ cấp dưới phát hiện vi phạm, thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tránh tình trạng nhận định thiếu toàn diện hoặc mâu thuẫn quan điểm giữa các cấp.
Nhờ đó, nhiều kháng nghị phúc thẩm đã được Tòa án chấp nhận, tạo chuyển biến tích cực trong công tác kiểm sát xét xử.
Vụ án điển hình: Kháng nghị được chấp nhận toàn bộ
Một trong những minh chứng rõ nét cho hiệu quả phối hợp hai cấp là vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” xảy ra tại tỉnh LĐ.
Theo hồ sơ, từ năm 1980, ông V.K.Đ. theo cha đi kinh tế mới tự do vào xã LT (nay là thị trấn LT), huyện BL, tỉnh LĐ để khai hoang phục hóa xây dựng kinh tế gia đình, đã khai phá được một thửa đất khoảng 2.000m2 (nguyên thủy là một đám đất sình) tại bến xe L cũ (ngã ba TR). Năm 1986, ông kết hôn với bà L.T.T, hai vợ chồng tiếp tục sử dụng diện tích đất này để chăn nuôi bò (làm trại nuôi bò) thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 34 và thửa đất số 66, tờ bản đồ số 31, diện tích đất được ông bà đăng ký trong Sổ Mục kê tờ bản đồ số 34 của UBND thị trấn LT năm 1999.
Năm 2006, UBND huyện BL ban hành thu hồi 1.244m2 đất của vợ chồng ông bà để xây dựng Trung tâm chính trị huyện và bồi thường cho ông bà số tiền 79.251.000 đồng. Năm 2018, UBND huyện BL thu hồi 173,5m2 đất của vợ chồng ông bà để mở rộng đường giao thông nội thị và năm 2020 bồi thường cho ông bà số tiền 82.447.000 đồng.
Tại Thông báo số 166/TB-UBND ngày 25/6/2018 của UBND huyện BL xác định diện tích đất còn lại của ông bà là 509m2, gồm thửa đất số 30, 31 và 32, tờ bản đồ mới C1 quy hoạch thị trấn LT. Vợ chồng ông bà kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng UBND huyện BL lại trả lời tại Công văn số 442/UBND ngày 25/02/2021 “Diện tích còn lại 503m2 là của Nông trường chè MR”, nhưng thực tế Nông trường chè MR đã có xác nhận thể hiện rằng diện tích đất này không phải của nhà máy chè MR mà là của ông Đ khai phá từ năm 1980.
Trong khi ông, bà khiếu nại thì UBND huyện BL lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ C1 cho bà H.T.D.
Không đồng ý, ông Đ. và bà T. khởi kiện đến TAND tỉnh L.Đ. yêu cầu hủy các quyết định giải quyết khiếu nại và buộc UBND huyện BL (nay là xã BL1) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà T. đối với diện tích 509m2, gồm thửa đất số 30, 31 và 32, tờ bản đồ mới C1 quy hoạch thị trấn LT.
Bản án hành chính sơ thẩm số 108/2024/HC-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh L.Đ. đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T.
Xét thấy cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất nhưng đã kết luận bản chất quyền sử dụng thuộc về tổ chức khác, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L.Đ. đã ban hành kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy án để xét xử sơ thẩm lại.
Sau quá trình phối hợp nghiên cứu hồ sơ, trao đổi nghiệp vụ và chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung bảo vệ kháng nghị của hai cấp Kiểm sát, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 15/8/2025, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Bản án hành chính phúc thẩm số 36/2025/HC-PT, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người khởi kiện và chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh L.Đ., hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ xét xử lại theo thủ tục chung.
Kết quả xét xử trên không chỉ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân mà còn khẳng định tính đúng đắn, kịp thời của kháng nghị và vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp của Ngành.
Giá trị thực tiễn từ cơ chế phối hợp hai cấp
Thực tiễn trên cho thấy, công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp trong ban hành và bảo vệ kháng nghị mang lại nhiều hiệu quả thiết thực:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng kháng nghị: Việc trao đổi, thỉnh thị giúp phát hiện vi phạm chính xác, toàn diện; thống nhất quan điểm pháp lý; hạn chế tình trạng kháng nghị thiếu căn cứ hoặc không được chấp nhận.
Thứ hai, tăng tính thuyết phục khi bảo vệ tại phiên tòa: Sự chuẩn bị kỹ lưỡng, có sự trao đổi, hỗ trợ nghiệp vụ của hai cấp, giúp Kiểm sát viên tự tin, bản lĩnh khi tham gia phiên tòa phúc thẩm; lập luận chặt chẽ, viện dẫn căn cứ pháp luật đầy đủ, góp phần nâng cao tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên vững mạnh: Thông qua quá trình phối hợp, trao đổi án, tập huấn và rút kinh nghiệm, Kiểm sát viên hai cấp được rèn luyện kỹ năng phân tích chứng cứ, đánh giá vi phạm, xây dựng luận cứ pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.
Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp trong ban hành và bảo vệ kháng nghị không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát xét xử, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Kết quả từ những vụ án cụ thể đã cho thấy: khi có sự chỉ đạo kịp thời, thống nhất quan điểm và sự tâm huyết, trách nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên, mỗi kháng nghị được ban hành không chỉ là một văn bản tố tụng, mà còn là sự thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm của ngành Kiểm sát trong bảo vệ công lý và quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.