leftcenterrightdel
 Cơ sở dự trữ dầu quốc gia Shibushi ở quận Kagoshima, miền Tây Nam Nhật Bản. Ảnh: Kyodo/TTXVN

Theo kênh Al Jazeera, châu Á đang đẩy nhanh các kế hoạch tăng dự trữ dầu khí sau khi xung đột Mỹ-Israel với Iran làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz. Đây là tuyến đường quan trọng đưa dầu và khí đốt từ các nước vùng Vịnh tới nhiều nền kinh tế châu Á.

Khi lượng tàu qua eo biển giảm mạnh do các cuộc tấn công của Iran và phong tỏa hải quân Mỹ, giá dầu khí tăng vọt, buộc nhiều nước áp dụng các biện pháp tiết kiệm nhiên liệu như kiểm soát giá, quy định ngày sử dụng ôtô luân phiên và yêu cầu một bộ phận công chức làm việc tại nhà.

Sau khủng hoảng, các chính phủ trong khu vực bắt đầu tìm kiếm giải pháp dài hạn, trong đó trọng tâm là đưa nguồn dự trữ năng lượng đến gần thị trường tiêu thụ hơn.

Parul Bakshi, nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford, nhận định cuộc khủng hoảng đang thúc đẩy hai hướng đầu tư: xây dựng hạ tầng giúp né tránh rủi ro địa chính trị và phát triển hạ tầng nhằm giảm hoàn toàn sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu.

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu. Dù phụ thuộc lớn vào năng lượng Trung Đông, Tokyo chịu ảnh hưởng ít hơn nhiều nền kinh tế khác nhờ sở hữu một trong những kho dự trữ dầu chiến lược lớn nhất thế giới.

Tháng 4, Thủ tướng Sanae Takaichi công bố sáng kiến POWERR Asia trị giá 10 tỷ USD, nhằm hỗ trợ các nước Đông Nam Á mua dầu và sản phẩm dầu mỏ, đồng thời xây dựng kho dự trữ chiến lược trong dài hạn.

Khủng hoảng cũng cho thấy mức độ dễ tổn thương của các nước Đông Nam Á.

Thái Lan có lượng dự trữ tương đương khoảng 61 ngày, tính cả khu vực công và tư nhân, trong khi Philippines có khoảng 50-60 ngày tồn kho tại các doanh nghiệp thương mại. Tuy nhiên, các con số này đều thấp hơn mức 90 ngày mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) khuyến nghị.

Philippines đang thúc đẩy dự luật thành lập kho dầu chiến lược của chính phủ đủ dùng trong 60 ngày. Thái Lan cũng xúc tiến kế hoạch xây dựng đường ống dẫn dầu thô xuyên bán đảo và các bồn chứa mới, nhằm tăng khả năng tiếp nhận dầu từ vùng Vịnh.

Ấn Độ cũng điều chỉnh chiến lược dự trữ sau khủng hoảng. Theo S&P Global, nước này có lượng dầu tương đương khoảng 74 ngày tiêu thụ tính đến tháng 5, hơn 90% thuộc các doanh nghiệp nhà nước.

Tháng 7, Tập đoàn Dầu khí và Khí đốt tự nhiên Ấn Độ công bố kế hoạch xây kho mới có sức chứa 1,75 triệu tấn, tương đương khoảng 13 triệu thùng dầu. Tập đoàn cũng có kế hoạch mở rộng thêm 6,5 triệu tấn sức chứa tại các kho hiện hữu.

Ấn Độ đồng thời xem xét lưu trữ một phần dầu chiến lược tại cảng Fujairah của UAE, nằm ngoài eo biển Hormuz. UAE và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Abu Dhabi (ADNOC) hiện đã lưu trữ dầu tại Singapore, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản, trong khi Kuwait và Saudi Arabia cũng có các kho dầu tại Hàn Quốc và Nhật Bản.

ADNOC đặt mục tiêu nâng sức chứa dầu thô tại Ấn Độ lên 30 triệu thùng.

Hàn Quốc cũng được cho là cân nhắc bổ sung 30-40 triệu thùng vào kho dự trữ, cao hơn kế hoạch ban đầu tăng thêm 20 triệu thùng so với mức khoảng 146 triệu thùng hiện nay.

Tại Trung Quốc, khủng hoảng eo biển Hormuz càng củng cố nhu cầu tăng đầu tư vào an ninh năng lượng. Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030 của Bắc Kinh bao gồm mở rộng đường ống, tăng năng lực lưu trữ LNG và đẩy mạnh khai thác dầu khí nước sâu.

PipeChina, doanh nghiệp vận hành đường ống quốc gia, hồi tháng 5 cho biết đang đẩy nhanh một số dự án trong gần 40 công trình dầu khí, trong đó có khoảng 9.000 km đường ống.

Cuộc khủng hoảng cho thấy các nền kinh tế châu Á không thể chỉ tập trung vào việc tìm nguồn dầu mới mà còn phải tính đến khả năng vận chuyển và mức độ chống chịu khi nguồn cung bị gián đoạn.

Mục tiêu chung của khu vực là giảm phụ thuộc vào một loại nhiên liệu, một nhà cung cấp hoặc một điểm nghẽn. Với các nước châu Á, câu hỏi hiện nay không chỉ là dầu đến từ đâu mà còn là dầu được vận chuyển bằng cách nào, nền kinh tế có thể duy trì bao lâu khi nguồn cung bị cắt đứt và liệu nhu cầu nhập khẩu có thể giảm hay không.

Theo TTXVN