Lào Cai có 33 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,6% dân số. Cùng với hệ thống di sản đã được công nhận, nhiều giá trị văn hóa vẫn hiện diện trong đời sống hằng ngày: Kiến trúc nhà ở, trang phục, nghề thủ công, ẩm thực, dược liệu, giống cây trồng bản địa và các tập quán truyền thống.

Những năm gần đây, các giá trị này được đưa vào sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng, làng nghề và dịch vụ trải nghiệm. Cách làm này mở thêm thị trường cho sản phẩm địa phương, đồng thời tạo việc làm tại chỗ cho người dân.

leftcenterrightdel
 Những nếp nhà sàn truyền thống của người Tày giữa không gian bản làng Nghĩa Đô. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Tuy nhiên, việc khai thác văn hóa cho phát triển kinh tế cũng đặt ra yêu cầu rõ hơn về chất lượng sản phẩm, cách tổ chức du lịch và vai trò của cộng đồng. Nếu phát triển thiếu kiểm soát, những nét riêng giữa các bản làng dễ bị làm giống nhau, còn người dân có nguy cơ chỉ tham gia ở những khâu có giá trị thấp.

Nghĩa Đô và hành trình đưa bản sắc vào sản phẩm

Tại Nghĩa Đô, những ngôi nhà sàn của người Tày đang trở thành một phần quan trọng của sản phẩm du lịch cộng đồng. Xã hiện còn hơn 1.000 nhà sàn truyền thống. Tại 7 thôn thuộc vùng lõi bảo tồn, 491 trong tổng số 627 hộ vẫn sinh sống trong nhà sàn; riêng thôn Nặm Cằm có 66/76 ngôi nhà giữ kiến trúc truyền thống.

Nghề đan lát của người Tày ở Nghĩa Đô đã được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cùng với đó là các món ăn, rượu men lá, làn điệu dân gian và không gian sinh hoạt cộng đồng.

Những giá trị này được đưa vào hoạt động du lịch theo cách khá trực tiếp. Du khách có thể lưu trú trong nhà sàn, thưởng thức ẩm thực của người Tày, mua sản phẩm đan lát, sử dụng đặc sản địa phương và tham gia các hoạt động văn hóa tại bản.

Nghĩa Đô hiện có 9 sản phẩm OCOP; 5 homestay từng đạt Giải thưởng Homestay ASEAN giai đoạn 2023 - 2025. Địa phương cũng được lựa chọn cùng Lâm Thượng xây dựng mô hình làng du lịch cộng đồng theo tiêu chuẩn ASEAN giai đoạn 2026 - 2028.

leftcenterrightdel
 Phụ nữ Mông ở Mù Cang Chải duy trì nghề dệt, thêu thổ cẩm gắn với sản phẩm phục vụ du lịch. Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường.

Từ những mô hình như Nghĩa Đô, Chương trình OCOP đang tiếp tục mở rộng đầu ra cho các sản phẩm bản địa, giúp chúng tiếp cận thị trường rộng hơn.

Tháng 3/2026, toàn tỉnh có 599 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao của 287 chủ thể; trong đó 112 chủ thể do phụ nữ làm đại diện và 102 chủ thể là người dân tộc thiểu số. Sau đợt rà soát, đánh giá lại theo chu kỳ, đến tháng 8 số sản phẩm còn hiệu lực là 563. Con số này cho thấy Chương trình OCOP không chỉ bổ sung sản phẩm mới mà còn liên tục sàng lọc, đánh giá lại chất lượng.

Tại Mù Cang Chải, Hợp tác xã Thêu dệt thổ cẩm Mông Style có 5 thành viên chính thức và gần 50 phụ nữ Mông tham gia sản xuất. Sản phẩm thổ cẩm của hợp tác xã được công nhận OCOP 3 sao, tiêu thụ trong nước và đã có mặt tại một số thị trường nước ngoài.

Tấm thổ cẩm truyền thống vì thế không chỉ phục vụ nhu cầu trong cộng đồng. Sản phẩm được thiết kế lại, hoàn thiện bao bì, xây dựng thương hiệu và tìm thị trường mới, trong khi nghề thêu vẫn tạo việc làm cho phụ nữ địa phương.

Tại Púng Luông, chè Shan tuyết cũng được tổ chức lại theo hướng tương tự. Thay vì chỉ bán nguyên liệu thô, hợp tác xã thu mua, chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm OCOP. Giá trị sản phẩm và sản lượng tiêu thụ nhờ đó được cải thiện.

Điểm chung của các mô hình này là giá trị văn hóa và sản vật địa phương được đưa vào một quy trình kinh tế rõ ràng hơn, từ sản xuất, tiêu chuẩn hóa đến tiêu thụ.

Du lịch cộng đồng mở thêm nguồn thu

Nếu OCOP giúp chuẩn hóa sản phẩm và mở rộng thị trường, du lịch cộng đồng lại tạo thêm đầu ra ngay tại nơi sản phẩm được làm ra.

Tại Tả Phìn, Hợp tác xã Tả Phìn Xanh phát triển các dịch vụ gắn với văn hóa Dao đỏ và Mông, gồm lưu trú, hướng dẫn tham quan, trải nghiệm thủ công, ẩm thực và tắm lá thuốc. Theo thông tin công bố vào tháng 5/2026, hợp tác xã có 20 thành viên, doanh thu hằng năm khoảng 4 - 6 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 10 - 15 lao động với thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm dịch vụ du lịch Khu sinh thái Vườn đá Tả Phìn được công nhận OCOP 4 sao.

Bài thuốc tắm của người Dao vì thế không chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu, mà còn trở thành một phần của chuỗi dịch vụ gồm chăm sóc sức khỏe, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn du lịch và sản phẩm thủ công. Qua đó, giá trị của sản phẩm được giữ lại nhiều hơn tại địa phương.

Toàn tỉnh hiện có gần 200 điểm du lịch cộng đồng và khoảng 740 cơ sở kinh doanh homestay, phân bố tại Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Yên, Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Yên Bình, Lục Yên và nhiều địa bàn khác.

Sự phát triển nhanh cũng bộc lộ một số hạn chế. Chẳng hạn, một số mô hình còn tự phát, sản phẩm tương đồng, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều; liên kết giữa hộ dân và doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế. Nếu nhiều điểm cùng cung cấp những trải nghiệm giống nhau, nét riêng của từng cộng đồng dễ bị mờ đi. Vì vậy, phát triển du lịch cộng đồng cần đi cùng chuẩn hóa dịch vụ, nhưng không làm mất sự khác biệt của từng bản làng và từng cộng đồng.

Chuẩn hóa để người dân thực sự hưởng lợi

Theo kế hoạch giai đoạn 2026 - 2028, Nghĩa Đô và Lâm Thượng được lựa chọn xây dựng mô hình làng du lịch cộng đồng kiểu mẫu. Mục tiêu đến năm 2027, ít nhất 80% hộ tham gia được đào tạo kỹ năng; mỗi xã xây dựng tối thiểu 5 sản phẩm đặc trưng gắn với văn hóa, ẩm thực, nông nghiệp, sinh thái hoặc làng nghề. Đến năm 2028, các mô hình hướng tới đáp ứng tiêu chí du lịch cộng đồng ASEAN. Đây là mục tiêu của kế hoạch, chưa phải kết quả đã đạt được.

Thực tế tại Lâm Thượng cho thấy yêu cầu chuẩn hóa là cần thiết. Địa phương đã hình thành các mô hình homestay, farmstay, nhưng hoạt động còn tương đối rời rạc, thiếu liên kết và sản phẩm chưa phong phú. Làm du lịch cộng đồng không chỉ dựa vào cảnh quan hay một ngôi nhà đẹp, mà còn đòi hỏi kỹ năng phục vụ, quản trị đặt phòng, vệ sinh, an toàn thực phẩm, ngoại ngữ, quảng bá số và khả năng phối hợp với doanh nghiệp lữ hành.

leftcenterrightdel
 Sản phẩm dược liệu của người Dao đỏ tại Tả Phìn đang được phát triển gắn với dịch vụ chăm sóc sức khỏe và du lịch. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Tuy nhiên, chuẩn hóa dịch vụ không đồng nghĩa với làm giống nhau về văn hóa. Nhà sàn vẫn là không gian sống, ruộng bậc thang gắn với sản xuất, thổ cẩm là sản phẩm của nghề truyền thống, còn lễ hội và nghi lễ thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng. Việc đưa các giá trị này vào du lịch cần có giới hạn, tránh biến sinh hoạt văn hóa thành hoạt động trình diễn đơn thuần.

Vai trò của người dân vì vậy cần được đặt ở vị trí trung tâm. Người dân trực tiếp làm homestay, điều hành hợp tác xã, sản xuất hàng thủ công, cung cấp nông sản, hướng dẫn khách và tham gia quản lý điểm du lịch sẽ có điều kiện hưởng lợi rõ hơn từ hoạt động kinh tế. Nguồn thu giữ lại tại địa phương cũng tạo thêm điều kiện duy trì nghề truyền thống, bảo tồn nhà cổ và truyền dạy kỹ năng cho thế hệ trẻ.

Đầu tháng 9/2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường cùng ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai ký quy chế phối hợp phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026 - 2030, tập trung khai thác sản phẩm OCOP, văn hóa cộng đồng, tài nguyên rừng và nông nghiệp để hình thành các sản phẩm đặc trưng.

Với Lào Cai, hiệu quả của quá trình này không chỉ nằm ở số sản phẩm OCOP hay số homestay được mở thêm, mà ở việc nghề truyền thống có tiếp tục tạo việc làm, sản phẩm địa phương có thị trường và người dân có thêm thu nhập hay không. Bản sắc chỉ thực sự trở thành sinh kế bền vững khi phần giá trị tạo ra quay trở lại với chính cộng đồng đang gìn giữ nó.

Bảo Phương