Sau khi trừ các khoản khác, EVN báo lãi sau thuế 51.881 tỉ đồng, cao gấp 6,3 lần so với năm 2024. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông Công ty mẹ đạt 50.511 tỉ đồng.
Cũng theo báo cáo, lợi nhuận chính đến từ hoạt động kinh doanh điện. Năm 2025, doanh thu bán điện đạt hơn 637.000 tỉ đồng, tăng hơn 64.000 tỉ đồng so với năm trước. Trong khi đó, giá vốn điện chỉ tăng khoảng 18.000 tỉ đồng, tương đương mức tăng hơn 3%.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn lượng tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng lên tới 132.388 tỉ đồng, tăng khoảng 78% so với đầu năm 2025. Như vậy, tổng lượng tiền gửi ngân hàng các kỳ hạn của EVN là hơn 152.000 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, các khoản phải thu ngắn hạn cũng tăng mạnh lên 68.791 tỉ đồng, trong khi hàng tồn kho giảm nhẹ xuống 22.286 tỉ đồng...
EVN làm rõ một số thông tin của báo cáo
Sau khi công bố, vào tối muộn ngày 7/6, EVN cũng có thông tin làm rõ một số thông tin trong Báo cáo tài chính năm 2025 của Công ty mẹ - EVN và Báo cáo hợp nhất toàn Tập đoàn.
Cụ thể, việc lập Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ - EVN và Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã được EVN thực hiện tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính này đã được Công ty TNHH Kiểm toán Deloitte Việt Nam thực hiện kiểm toán và cho ý kiến khách quan.
Theo Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ - EVN năm 2025 đã được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của Công ty mẹ - EVN năm 2025 đạt 39.762 tỉ đồng, số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của Công ty mẹ EVN còn 5.611 tỉ đồng. Vấn đề này EVN cũng đã có văn bản số 2697/EVN-TTVHDN+TCKT ngày 14/5/2026 báo cáo Bộ Công Thương thông tin về số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của Công ty mẹ - EVN.
Theo Báo cáo tài chính hợp nhất của EVN, chỉ tiêu Lợi nhuận sau thuế hợp nhất toàn Tập đoàn là 51.881 tỉ đồng, trong đó phần thuộc Công ty mẹ là 50.511 tỉ đồng (Chỉ tiêu số 61 tại Mẫu số B 02-DN/HN). Chỉ tiêu này bao gồm lợi nhuận của Công ty mẹ - EVN và lợi nhuận thuộc Công ty mẹ - EVN tại các Công ty con (các công ty TNHH MTV và các công ty cổ phần mà EVN nắm quyền kiểm soát) tương ứng với tỉ lệ sở hữu của EVN tại các Công ty con, công ty liên kết.
Do đó, số liệu này khác với số liệu trình bày tại Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ - EVN. Ngoài ra, theo EVN, chỉ tiêu số 61 tại Báo cáo tài chính hợp nhất chưa xét tới việc trích lập các quỹ ở các Công ty con, phương án phân phối/giữ lại lợi nhuận theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Như vậy, việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh cần nêu rõ thực hiện theo số liệu tại báo cáo của Công ty mẹ- EVN hoặc tại báo cáo hợp nhất toàn Tập đoàn. Theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán, các nội dung về kết quả sản xuất kinh doanh như sau:
Lợi nhuận sau thuế của Công ty mẹ - EVN năm 2025 đạt 39.762 tỉ đồng, hết năm 2025 số lỗ lũy kế của Công ty mẹ EVN còn 5.611 tỉ đồng; Lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2025 đạt 51.881 tỉ đồng, không còn lỗ lũy kế hợp nhất.
"Vì vậy, để phản ánh đúng tình hình sản xuất kinh doanh điện và đảm bảo nhất quán việc phân tích, so sánh phù hợp theo hệ thống số liệu mà EVN đã báo cáo đối với các năm trước đó và trong thời gian vừa qua, EVN đề nghị xem xét, cung cấp các thông tin đánh giá số liệu tại Báo cáo tài chính riêng năm 2025 của Công ty mẹ EVN đã được kiểm toán"- thông tin của EVN nêu rõ.
Thông tin về số tiền gửi ngân hàng 152.000 tỉ đồng
Về tổng số tiền gửi ngân hàng hợp nhất cuối năm 2025 (bao gồm tiền, tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là 152.000 tỉ đồng), theo EVN, đây là số liệu tổng hợp từ tất cả báo cáo tài chính của các đơn vị thành viên của EVN, trong đó bao gồm cả các đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và dịch vụ phụ trợ.
“Nếu so với số dư nợ ngắn hạn tại cùng thời điểm là hơn 227.000 tỉ đồng thì mức tiền gửi 152.000 tỉ đồng vẫn chưa thể đáp ứng được việc trả nợ ngay cho các nhà cung cấp nhiên liệu (than, dầu, khí) và trả tiền mua điện từ các nhà máy điện ngoài EVN (tổng cộng hơn 118.000 tỉ đồng), ngoài ra còn phải trả nợ vay đến hạn là hơn 47.000 tỉ đồng”- văn bản của EVN nêu rõ.
Cũng theo EVN, việc duy trì số dư tiền gửi là cần thiết để EVN và các đơn vị có nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Cụ thể như: Các đơn vị phát điện cần có số dư tiền lớn để mở Thư tín dụng (L/C) thanh toán cho các đơn vị cung cấp nhiên liệu trong nước hoặc nhập khẩu. Đối với công ty mẹ EVN cần phải đảm bảo thanh toán hàng tháng cho các nhà đầu tư bên ngoài bán điện cho EVN. Đặc biệt, trong giai đoạn vừa qua khi giá nhiên liệu đầu vào diễn biến khó lường và nhiều thời điểm tăng cao đột biến. Để đảm bảo không ảnh hưởng đến an ninh cung ứng điện, EVN và các đơn vị phát điện phải có sự cân đối dòng tiền và dự phòng thích hợp.
Số dư nợ vay của EVN và các đơn vị là rất lớn, riêng số dư nợ vay ngắn hạn đã lên tới 47.000 tỉ đồng, đòi hỏi EVN phải đảm bảo khả năng sẵn sàng trả nợ vay, đảm bảo tín nhiệm tín dụng.
Ngoài ra, để đảm bảo cung ứng điện trong dài hạn, hiện nay nhu cầu đầu tư xây dựng của EVN và các đơn vị là rất lớn, trong đó có nhiều dự án nguồn và lưới điện cấp bách, trọng điểm, yêu cầu vốn đầu tư đặc biệt lớn. Do đó, EVN và các đơn vị phải đảm bảo cung cấp đủ vốn theo kế hoạch, có dự phòng vốn trong trường hợp chậm giải ngân từ nguồn vốn tín dụng để đảm bảo tiến độ dự án đã được giao.