Tranh chấp đất rừng kéo dài từ giao dịch 7 triệu đồng
Theo nội dung vụ án, ngày 19/2/2006, ông Bùi Văn Sừn và ông Bùi Văn Mịch, cùng trú tại xóm Đá Trắng, xã Yên Phú, tỉnh Phú Thọ có ký với nhau Biên bản chuyển nhượng đất rừng với nội dung: Ông Sừn chuyển nhượng cho ông Mịch 2 thửa đất “để sử dụng lâu dài” gồm thửa đất số 59 và thửa đất số 71, tờ bản đồ số 05, tổng diện tích 92.000m2 tại đồi Khòng Bi, xã Yên Phú, tỉnh Phú Thọ.
Ông Sừn đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông Mịch đã trả đủ cho ông Sừn 7 triệu đồng. Hai bên lập biên bản để ông Mịch có cơ sở làm thủ tục chuyển nhượng đất.
Từ năm 2006, gia đình ông Mịch, bà Bùi Thị Dung (người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Mịch) đã cùng gia đình ông Bùi Đức Lựm, bà Bùi Thị Bẩm (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) trồng cây lâu năm trên toàn bộ diện tích đất trên.
Tuy nhiên, ông Sừn và vợ là bà Quách Thị Liển cho rằng không có việc chuyển nhượng đất và biên bản chuyển nhượng ngày 19/2/2006 về bản chất là ông Sừn vay nợ ông Mịch 7 triệu đồng và thế chấp bằng quyền sử dụng đất.
Vì vậy, nguyên đơn ông Sừn, bà Liển khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên “Biên bản chuyển nhượng đất rừng” ngày 19/2/2006 vô hiệu do giả tạo.
Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Lạc Sơn (nay là Ban quản lý dự án Lạc Sơn) tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án hồ chứa nước Cánh Tạng xác nhận: Hộ ông Bùi Văn Sừn và bà Quách Thị Liển là một trong các hộ trên địa bàn xóm Trắng Đá, xã Yên Phú bị thu hồi đất để thực hiện dự án gồm thửa 59 và 71, tờ bản đồ số 5 tại đồi Khòng Bi, xã Yên Phú với tổng diện tích là 85.007m2.
Trong đó diện tích bị thu hồi là 32.497,1m2 (số tiền Nhà nước hỗ trợ là 1.299.884.000 đồng) diện tích đất còn lại là 52.509,9m2. Hiện nay, Ban quản lý dự án chưa thực hiện việc kiểm đếm đất đai, tài sản và phương án bồi thường đối với diện tích nêu trên bởi đang có tranh chấp.
    |
 |
| Đồng chí Đào Thị Hồng Điệp, Viện trưởng VKSND khu vực 15, tỉnh Phú Thọ nghe Kiểm sát viên báo cáo án. |
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DSST, ngày 15/7/2025 của TAND khu vực 15, tỉnh Phú Thọ quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông Sừn, bà Liển về việc "Yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất".
Tuyên bố "Biên bản chuyển nhượng đất rừng" lập ngày 19/2/2006 giữa ông Bùi Văn Sừn và ông Bùi Văn Mịch hiệu do giả tạo và vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba là bà Quách Thị Liển.
Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn Mịch phải trả lại cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn Sừn và bà Quách Thị Liển toàn bộ diện tích đất còn lại sau khi thu hồi là 55.141,4m2 kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Bùi Văn Sừn.
Bên cạnh đó, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn Sừn có nghĩa vụ thanh toán trả cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn Mịch và bà Bùi Thị Dung số tiền 866.987.600 đồng là thiệt hại do giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Đồng thời, bác đơn yêu cầu phản tố của bị đơn ông Bùi Văn Mịch về yêu cầu đòi bồi thường công tôn tạo đất và thiệt hại trong thời gian tranh chấp từ năm 2019 đến nay.
Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không đúng
Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án, VKSND khu vực 15, tỉnh Phú Thọ phát hiện Bản án sơ thẩm có vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, dẫn đến giải quyết vụ án không đúng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bị đơn, cụ thể:
Bản án nhận định về Biên bản chuyển nhượng đất rừng: Về hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật. Biên bản chuyển nhượng không mô tả cụ thể đặc điểm thửa đất, địa chỉ thửa đất, bà Liển có nhận tiền nhưng ý thức rằng đó là tiền vay, không phải tiền bán đất.
Biên bản không có các nội dung như: Lý do chuyển nhượng đất, loại đất, hạng đất, ranh giới, tình trạng đất, địa chỉ thửa đất và biên bản này chưa được công chứng, chứng thực, theo quy định tại Điều 698 của BLDS năm 2005 thì hợp đồng trên đã vi phạm về hình thức hợp đồng.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm b.3, tiểu mục 2.3, mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao và quy định tại khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP thì giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng trên không vô hiệu về hình thức, bởi kể từ khi nhận chuyển nhượng đất năm 2006 đến nay (gần 20 năm) ông Mịch, bà Dung đã trồng cây lâu năm, canh tác liên tục, ổn định trên toàn bộ diện tích đất tranh chấp, ông Sừn, bà Liển biết việc đó và không phản đối gì.
Đồng thời các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong Án lệ số 55/2022/AL đó là: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 1/1/2017 chưa được công chứng, chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ của mình. Trường hợp này Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng, do vậy cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không chính xác.
    |
 |
| Kiểm sát viên Phòng 9, VKSND tỉnh Phú Thọ xác minh, thẩm định tại chỗ diện tích đất tranh chấp trong một vụ án dân sự. |
Bản án sơ thẩm nhận định về nội dung Biên bản chuyển nhượng đất ngày 19/2/2006 không ghi rõ cụ thể nội dung chuyển nhượng đất, ông Mịch nhận chuyển nhượng ký với tư cách là “người nhận đất” cho gia đình ông Mịch và lời khai của ông Lin (là người được nhờ viết giấy chuyển nhượng ngày 19/2/2006), không đủ tin tưởng.
Việc bản án sơ thẩm nhận định, nếu là chuyển nhượng đất thì không cần ghi rõ “để sử dụng lâu dài” và ông Mịch phải ký rõ với tư cách là người nhận chuyển nhượng đất chứ không phải “người nhận đất”, tuy nhiên Bản án sơ thẩm không xem xét đến phần cuối của biên bản có ghi “...chúng tôi làm biên bản này, làm cơ sở cho ông Mịch làm thủ tục chuyển nhượng đất theo luật đất đai ban hành”.
Như vậy đây là sự thỏa thuận rõ ràng về việc chuyển nhượng đất. Đồng thời trong Biên bản chuyển nhượng đất rừng, viết tay ngày 19/2/2006 do ông Bùi Văn Lin là trưởng xóm, là hàng xóm viết theo yêu cầu của các bên đương sự.
Bản án sơ thẩm xác định giữa gia đình ông Mịch và gia đình ông Sừn có quan hệ vay nợ và quyết định giao dịch chuyển nhượng đất ngày 19/02/2006 vô hiệu do giả tạo là không có cơ sở.
TAND tỉnh Phú Thọ chấp nhận kháng nghị
Qua các tài liệu, chứng cứ và quá trình sử dụng đất có thể khẳng định, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng ngày 19/2/2006 giữa ông Bùi Văn Sừn và ông Bùi Văn Mịch là có thật.
Biên bản chuyển nhượng đất đã thể hiện đầy đủ nội dung cơ bản là bên chuyển nhượng đất, bên nhận chuyển nhượng đất, có diện tích đất, có loại đất và có số tiền chuyển nhượng đất là phù hợp với giá trị thời điểm ký kết giao dịch.
Theo thỏa thuận thì bên gia đình ông Sừn đã nhận đủ tiền, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất cho ông Mịch, ông Mịch cũng đã trả đủ tiền, nhận đất và thực hiện việc canh tác từ đó đến nay ổn định, không tranh chấp.
Bà Liển cũng là người trực tiếp nhận tiền từ ông Sừn và sử dụng cho gia đình. Gia đình ông Mịch đã canh tác sử dụng đất đến nay đã gần 20 năm, gia đình ông Sừn hoàn toàn biết việc này và không có ý kiến phản đối gì, cũng như không có bất kỳ động thái nào trong việc “chuộc bìa đỏ” về vì cho rằng đây là thế chấp quyền sử đất, cho đến khi Nhà nước triển khai dự án hồ Cánh Tạng, phát sinh việc đền bù đất năm 2019.
Biên bản chuyển nhượng đất rừng ngày 19/2/2006 cả về hình thức và nội dung đều đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật dân sự, có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Vì các lẽ trên, Viện trưởng VKSND khu vực 15, tỉnh Phú Thọ Quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử, sửa Bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của TAND khu vực 15 theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Mới đây, tại phiên tòa phúc thẩm, TAND tỉnh Phú Thọ chấp nhận toàn bộ kháng nghị của VKSND khu vực 15, tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và đòi quyền sử dụng đất.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất rừng ngày 19/2/2006 giữa ông Sừn và ông Mịch có hiệu lực pháp luật.