Trong cấu trúc của Nhà nước pháp quyền, quyền xét xử là trung tâm của hoạt động tư pháp nhưng không phải là quyền lực tuyệt đối đứng ngoài sự kiểm soát. Cùng với nguyên tắc độc lập xét xử,
Hiến pháp thiết lập cơ chế kiểm sát hoạt động tư pháp do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện, nhằm bảo đảm mọi Bản án đều được ban hành trên cơ sở chứng cứ hợp pháp, được đánh giá khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại thành phố CT là một minh chứng điển hình cho sự vận hành đầy đủ và hiệu quả của cơ chế đó, khi quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và quyền kiến nghị của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP Hồ Chí Minh (viết tắt là Viện phúc thẩm 3) đã phát huy vai trò điều chỉnh, sửa sai và khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử.
Theo hồ sơ vụ án, các bị cáo là lãnh đạo một chi nhánh ngân hàng đã biết rõ doanh nghiệp vay vốn không đủ điều kiện hưởng chính sách ưu đãi lãi suất 0% theo Quyết định 63/2010/QĐ-TTg, nhưng vẫn phê duyệt cho vay với tổng số tiền 258 tỉ đồng.
Khi khoản vay có nguy cơ phát sinh nợ xấu, thay vì xử lý theo quy định, các bị cáo đã bàn bạc, sử dụng các công ty “vệ tinh”, lập hồ sơ vay mới, nâng khống giá trị tài sản bảo đảm, hợp thức hóa điều kiện tín dụng để tiếp tục giải ngân. Nguồn tiền vay không được sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh mà chuyển sang đầu tư bất động sản, đảo nợ và phục vụ lợi ích cá nhân. Kết quả, sau khi đối trừ giá trị tài sản bảo đảm theo kết luận định giá trong tố tụng hình sự, thiệt hại thực tế đối với ngân hàng được xác định là hơn 303 tỉ đồng.
Bản chất của hành vi trong vụ án không dừng lại ở sai sót nghiệp vụ tín dụng mà thể hiện đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”: cho vay trái điều kiện pháp lý, vượt giới hạn, không bảo đảm quy định bắt buộc, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, ở lần xét xử sơ thẩm đầu tiên, Tòa án nhân dân thành phố CT (viết tắt là Tòa án A) đã tuyên các bị cáo không phạm tội với lập luận cho rằng chưa đủ căn cứ xác định thiệt hại, từ đó áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội. Lập luận này bộc lộ sự lệch chuẩn trong phương pháp đánh giá cấu thành tội phạm và chứng cứ.
Cụ thể: Thứ nhất, Bản án chưa phân tích toàn diện yếu tố hành vi - vốn là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm - mà tập trung gần như duy nhất vào hậu quả. Cấu thành tội phạm theo Điều 179 Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ đòi hỏi hậu quả thiệt hại mà còn bao gồm hành vi cho vay trái quy định.
Hồ sơ thể hiện rõ việc cho vay khi không đủ điều kiện, nâng khống giá trị tài sản bảo đảm và hợp thức hóa hồ sơ. Việc không phân tích toàn diện hành vi theo cáo trạng dẫn đến bỏ sót yếu tố cấu thành bắt buộc.
Thứ hai, Tòa án A sai lầm trong đánh giá chứng cứ định giá tài sản: Cơ quan điều tra đã trưng cầu 6 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thực hiện theo đúng trình tự Bộ luật Tố tụng hình sự. Các kết luận định giá không mâu thuẫn và được Hội đồng định giá theo vụ việc ở Trung ương xác nhận.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm lại không chấp nhận giá trị pháp lý của các kết luận này, trong khi sử dụng các chứng thư thẩm định giá do luật sư cung cấp - tài liệu không được thu thập theo trình tự tố tụng. Đây là sai lệch trong nguyên tắc đánh giá chứng cứ hợp pháp.
Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội được vận dụng trong khi chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện toàn bộ chứng cứ hợp pháp có trong hồ sơ vụ án: Suy đoán vô tội không phải là công cụ để thay thế việc đánh giá chứng cứ toàn diện.
    |
 |
| Đồng chí Nguyễn Khánh Toàn - Phó Viện trưởng Viện Phúc thẩm 3 trực tiếp chỉ đạo và tổ chức họp các Kiểm sát viên về các nội dung vụ án (Ảnh: Hoàng Ân). |
Nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi sau khi đã xem xét đầy đủ chứng cứ hợp pháp mà vẫn không thể chứng minh được tội phạm. Trong vụ án này, việc chưa đánh giá hết chứng cứ nhưng đã kết luận không đủ căn cứ buộc tội là một bước đi thiếu cơ sở pháp lý vững chắc.
Trước những vi phạm, thiếu sót trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CT đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố và xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.
Quyết định kháng nghị này không phải là phản ứng tố tụng mang tính tranh luận thuần túy, mà là việc thực hiện một quyền năng hiến định nhằm bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất và đúng đắn. Kháng nghị đã chỉ ra rõ những thiếu sót trong đánh giá chứng cứ, trong nhận định về cấu thành tội phạm và trong xác định thiệt hại, qua đó kích hoạt cơ chế xem xét lại Bản án theo trình tự luật định.
Trên cơ sở kháng nghị đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh (nay là Tòa Phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao TP Hồ Chí Minh) đã quyết định hủy Bản án sơ thẩm lần một, trả hồ sơ để điều tra và xét xử lại. Ở lần xét xử tiếp theo, các bị cáo bị tuyên có tội; và tại phiên phúc thẩm sau đó, mức hình phạt được giữ nguyên, khẳng định tính đúng đắn của kháng nghị ban đầu.
Tuy nhiên, cơ chế kiểm sát không chỉ dừng lại ở việc sửa sai một Bản án cụ thể. Sau khi xác định Bản án sơ thẩm lần một có vi phạm nghiêm trọng trong đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP Hồ Chí Minh đã ban hành Kiến nghị yêu cầu Tòa án A tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm và thông báo trong toàn đơn vị để phòng ngừa vi phạm tương tự.
Kiến nghị này mang ý nghĩa thể chế sâu sắc: Không can thiệp vào quyền xét xử độc lập, nhưng xác lập chuẩn mực về phương pháp đánh giá chứng cứ, về giá trị pháp lý của kết luận định giá trong tố tụng hình sự, về điều kiện áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội và về trách nhiệm bảo đảm tính toàn diện trong nhận định của Bản án. Kiến nghị vì vậy không chỉ là văn bản nghiệp vụ, mà là công cụ điều chỉnh nhận thức pháp lý trong hoạt động xét xử.
Ngày 11/02/2026, Tòa án A đã có Văn bản số 19/TA-GĐ,KT,TT&THA chính thức trả lời Viện Phúc thẩm 3 với nội dung đã tổ chức họp Ủy ban Thẩm phán để kiểm điểm, rút kinh nghiệm và thông báo trong hệ thống Tòa án hai cấp tại địa phương nhằm nâng cao chất lượng xét xử.
Sự tiếp thu và phản hồi bằng văn bản đó có ý nghĩa thể chế quan trọng, cho thấy cơ chế kiến nghị của Viện kiểm sát không phải là hình thức, mà có khả năng tác động thực tế đến hoạt động tư pháp; đồng thời, thể hiện tinh thần trách nhiệm và cầu thị trong nội bộ các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong một nền tư pháp hiện đại, việc chấp nhận nhìn nhận hạn chế và rút kinh nghiệm không làm suy giảm uy tín của cơ quan xét xử, mà ngược lại, củng cố niềm tin xã hội vào tính minh bạch và khả năng tự điều chỉnh của hệ thống.
Từ quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CT đến văn bản kiến nghị của Viện phúc thẩm 3 có thể thấy rõ một chuỗi cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp được vận hành đồng bộ. Nếu xét xử là nơi đưa ra phán quyết cuối cùng về trách nhiệm hình sự, thì kiểm sát là thiết chế bảo đảm để phán quyết đó được hình thành trên nền tảng pháp lý chuẩn xác.
Viện kiểm sát không phải là chủ thể đứng ngoài hay chỉ tham gia với vai trò buộc tội, mà là cơ quan được giao trách nhiệm bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích công và bảo đảm sự nghiêm minh của hệ thống tư pháp. Trong những vụ án kinh tế - tín dụng có tính chất phức tạp, giá trị thiệt hại đặc biệt lớn và liên quan đến chuẩn mực quản trị ngân hàng, vai trò kiểm sát càng có ý nghĩa quyết định trong việc giữ vững ranh giới giữa sai sót nghiệp vụ và hành vi phạm tội, giữa tranh chấp dân sự và trách nhiệm hình sự.
Vụ án này cho thấy rõ khi quyền kháng nghị được thực hiện kịp thời, khi quyền kiến nghị được ban hành trên cơ sở lập luận pháp lý chặt chẽ, cơ chế kiểm sát không làm suy giảm quyền xét xử mà làm cho quyền đó được đặt đúng quỹ đạo pháp luật.
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí của Viện kiểm sát không phải là thiết chế phụ trợ mà là một trụ cột bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hoạt động tư pháp.
Chính trong những vụ án phức tạp, nhạy cảm và có nguy cơ tạo tiền lệ như vụ án này, vai trò đó được thể hiện rõ ràng nhất – bằng hành động pháp lý cụ thể, bằng quyền năng tố tụng được thực thi đầy đủ và bằng cơ chế sửa sai minh bạch trong nội bộ hệ thống tư pháp.