
Nghề làm nước mắm Nam Ô ra đời từ năm nào dân làng Nam Ô đến nay vẫn không nhớ chính xác. Các bậc cao niên ở làng chỉ nhớ vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nghề làm nước mắm Nam Ô phát triển khá mạnh. Giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, nước mắm Nam Ô được tặng thưởng Huy chương Vàng tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ ở Hà Nội.

Với người dân làng nghề làm mắm Nam Ô, điều họ tự hào nhất về thứ đặc sản này chính là từng được chọn để tiến Vua. Trải qua hàng trăm năm với bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử, người dân làng Nam Ô vẫn gìn giữ và lưu truyền những kinh nghiệm, bí quyết để làm nên những giọt nước mắm có màu đỏ thẫm, mang vị ngọt tự nhiên.

Nguyên liệu chính để tạo nên mùi vị riêng cho nước mắm Nam Ô là cá cơm than và muối. Mỗi năm, người dân Nam Ô làm mắm vào tháng ba và tháng tám âm lịch theo vụ cá cơm than.

Cá cơm than dùng để muối mắm phải còn tươi xanh, không to quá hoặc cũng không nhỏ quá. Bởi nếu cá to thì khi muối xong cá lâu phân rã, hoặc phân rã không đều đến khi lấy nước mắm nhỉ có mùi vị không thơm, đặc biệt màu nước mắm không được đỏ đậm, như thế nước mắm sẽ không ngon. Và đặc biệt, cá cơm phải được rửa bằng nước biển, không dùng nước ngọt bởi sẽ làm mất vị cá.

Nước mắm Nam Ô ngon, có vị đặc trưng không chỉ từ cá cơm than mà một phần nhờ vào việc chọn muối. Muối dùng làm mắm Nam Ô là muối Đề Gi, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) hay muối Cà Ná (Ninh Thuận).

Rồi cứ lần lượt một lớp cá, một lớp muối cho vào chum. Khi chum đầy thì dùng vỉ tre chèn cá xuống, sau đó gài miệng chum cho thật kín, và để chum ở nơi khô ráo, an toàn và hoàn toàn kín gió. Sau 12 tháng, khi cá bắt đầu chín rục thành mắm, thì mang ra lọc.

Nước mắm Nam Ô được sản xuất theo phương pháp lọc nhĩ, tinh khiết, thuần chất cá cơm than, không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào.

Muốn có được những giọt mắm thơm tinh khiết, không lẫn xác cá, thì người dân phải dùng nhiều lớp vải lót trong một chiếc phễu tre to, và để cho từng giọt mắm nhĩ xuống.

Đến nay, làng nghề có 92 hộ làm nước mắm, trong đó có 62 hộ tham gia vào Hội làng nghề nước mắm truyền thống, 10 cơ sở quy mô lớn, 17 cơ sở đăng ký thương hiệu riêng, ba hợp tác xã và một doanh nghiệp.

Tiếp nối từ hàng trăm năm trước cho đến nay, các thế hệ người dân Nam Ô vẫn luôn gắn bó, duy trì và phát triển nghề làm nước mắm của cha ông để lại. Sản phẩm của làng nghề không chỉ là thứ gia vị trong bữa ăn hằng ngày của người dân Đà Nẵng mà còn là biểu tượng văn hóa, có tính đại diện, thể hiện bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương.

Ngày 27/8/2019, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định công nhận Di sản phi vật thể quốc gia, trong đó có nghề làm nước mắm Nam Ô, phường Hòa Hiệp Nam, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.

Nước mắm Nam Ô dùng để nêm nếm các món ăn sẽ tăng độ đậm đà và dậy mùi. Hoặc bạn có thể giã chút ớt, tỏi thếm ít mì chính và cho nước mắm vào trộn đều. Rất đơn giản, bạn đã có một chén mắm ớt ngon tuyệt rồi. Dùng để chấm ram cuốn cải hay cá chiên, rau luộc thì còn gì bằng.