
Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO ghi tên vào danh sách di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Hiện nay, nơi đây đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng cần được chú ý và trở thành điểm đến thu hút đông đảo khách du lịch. Tổng số lượng khách năm 2019 ước đạt 420.906 lượt khách. Khách nước ngoài ước đạt 370.263 lượt, so với cùng kỳ 342.938 lượt, khách Việt Nam ước đạt 50.643 lượt.

Khu vực này được phát hiện vào năm 1885 bởi một toán lính Pháp. Mười năm sau (1895), nhà khảo cổ Camille Paris đã tới đây phát quang và tìm hiểu lần đầu tiên. Từ đó đến năm 1904, rất nhiều nhà nghiên cứu và khảo cổ khác cũng tới để nghiên cứu...

Khu thánh địa Ấn Độ giáo của Vương quốc Chămpa xưa bao gồm 70 công trình đền tháp được xây dựng theo cùng một nguyên tắc nhưng có tuổi thọ khác nhau.

Ngoài kiến trúc độc đáo, Thánh địa Mỹ Sơn tọa lạc tại một vị trí mang dấu ấn rất "Thiên linh" và có sự bao bọc của chốn núi rừng...

Những kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc tinh xảo còn in dấu đậm nét tại Mỹ Sơn.

Các tháp ở Thánh địa Mỹ Sơn đều có hình chóp, theo quan niệm của người Chăm Pa cổ thì đây là biểu tượng của đỉnh núi Meru, nơi ở của những vị thần Hindu.

Kết cấu mỗi cụm gồm đền thờ chính, bao quanh là những ngôi tháp nhỏ hoặc công trình phụ. Trong đó đền chính tượng trưng cho núi Meru, trung tâm của vũ trụ, là nơi hội tụ của thần linh và thờ thần Siva...

20 thế kỷ đã trôi qua dưới sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, hiện nay Mỹ Sơn vẫn còn giữ được gần 20 ngọn tháp, trong đó có một số tháp như: B5, C1, D1... còn gần như nguyên vẹn. Tuy nhiên, những gì còn lại ở đây cũng đủ khiến du khách ngỡ ngàng thán phục về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và trang trí của người Chămpa cổ xưa. Đặc biệt, kỹ thuật kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ Sơn vẫn là một bí ẩn tới nay vẫn chưa có lời giải…

Điểm nổi bật của nghệ thuật điêu khắc Chăm là thể hiện sức sống mãnh liệt của con người với nội tâm lúc bay bổng sảng khoái, lúc trầm tĩnh ưu tư, lúc lại trăn trở day dứt.

Những ảnh hưởng văn hoá bên ngoài, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ giáo từ tiểu lục địa Ấn Độ phản ảnh sinh động tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá Chăm Pa trong lịch sử văn hoá Đông Nam Á.

Ở trước mỗi ngôi đền sẽ có một vị thần gác cửa. Tác phẩm này theo thời gian không còn nguyên vẹn nhưng vẫn còn thấy y phục là một chiếc sampot, tư thế đứng cân xứng, dây rắn vắt ngang vai, tay cầm cây dao ngắn, đặt tay kia lên dây đai hông, vòng trang trí ở cổ và cánh tay... Qua điêu khắc cho thấy tượng thuộc phong cách Khương Mỹ thế kỉ X.

Các họa tiết thường gặp là hoa lá, động vật như voi hoặc sư tử, hình tượng Kala - Makara (một biểu tượng của người Chăm Pa), hoạt cảnh vũ nữ Apsara, nhạc công, chư thiên đứng hộ trì hay thủy quái Makara...

Để bảo tồn, vành đai cây xanh được thiết lập bao phủ xung quanh khu di tích tạo nên không gian văn hóa Chămpa đặc biệt, vừa cổ kính, độc đáo nhưng cũng rất gần gũi, lãng mạn.

Nơi đây không chỉ lưu giữ lại được những dấu tích cổ xưa của một nền văn hóa mà còn chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật vô cùng độc đáo.