leftcenterrightdel
 Quang cảnh một phiên tòa dân sự liên quan đến lĩnh vực đất đai. (Ảnh minh họa)

Làm rõ các trường hợp được giao thêm suất tái định cư

Theo quy định tại khoản 4, Điều 111, Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung năm 2024), trong một số trường hợp người bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ 2 thửa đất tái định cư.

Trong bài viết này, tác giả sẽ bàn về các quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan nhằm làm sáng tỏ một số điều kiện để người có đất thu hồi đất được hỗ trợ tái định cư bằng cách giao 2 thửa đất ở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Tại Quyết định số 84/2025/QĐ-UBND ngày 3/11/2025 của UBND tỉnh Phú Thọ ban hành quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ: 

 “Điều 11: Hỗ trợ trong trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 1 thửa đất ở bị thu hồi.

 1. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình còn thiếu tại khu tái định cư. Diện tích giao đất ở cho mỗi hộ gia đình trong trường hợp này do UBND cấp xã xem xét, quyết định theo quy hoạch chi tiết được duyệt.

 2. Trường hợp có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 1 thửa đất ở bị thu hồi thì được xem xét hỗ trợ để giao thêm 1 thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư. Diện tích giao đất ở trong trường hợp này do UBND cấp xã xem xét, quyết định theo quy hoạch chi tiết được duyệt”.

Như vậy, căn cứ vào Luật Đất đai và quy định của UBND tỉnh Phú Thọ có thể hiểu về các trường hợp có thể được hỗ trợ tái định cư thêm 1 ô đất tái định cư gồm:

Trường hợp thứ nhất: Trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú.

Trường hợp thứ hai: Trường hợp có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 1 thửa đất ở bị thu hồi.

leftcenterrightdel
 Kiểm sát viên kiểm sát việc giải quyết vụ án liên quan đến thu hồi đất. (Ảnh minh họa)

Vướng mắc trong xác định “cùng chung sống” và “chung quyền sử dụng đất”         

Đối với trường hợp thứ nhất: Các điều kiện đi kèm là hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng nhưng phải cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi và bảo đảm đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú (Điều 25 Luật cư trú).

Tuy nhiên, cách hiểu như thế nào là “cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi” còn có quan điểm khác nhau. Cụ thể:

Cách hiểu thứ nhất: Gia đình ông A bị thu hồi đất có 300m2 đất ở nông thôn (ONT). Trong hộ gia đình ông A có 3 nhân khẩu gồm ông A, vợ là bà B và con gái là chị C (đã trên 18 tuổi) đang cùng chung sống trên thửa đất này. Chị C đủ điều kiện tách thành hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật cư trú. Do vậy, gia đình ông A được bố trí 2 ô đất tái định cư.

Cách hiểu thứ hai: Gia đình ông A bị thu hồi đất có 300m2 đất ở nông thôn (ONT). Trong hộ gia đình ông A có 3 nhân khẩu gồm ông A, vợ là bà B và con gái là chị C (đã trên 18 tuổi). Hiện, chị C đang đi làm công nhân tại khu công nghiệp ở TP Hà Nội (có đăng ký tạm trú), thỉnh thoảng mới về địa phương. Chị C đủ điều kiện tách thành hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật cư trú. Do vậy, gia đình ông A được bố trí 2 ô đất tái định cư.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất, quy định về tái định cư là chính sách nhân văn của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền có chỗ ở hợp pháp của công dân. Việc thu hồi đất tác động trực tiếp đến người đang thực tế sống trên thửa đất tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất. Do vậy, cần phải hiểu “cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi” được xác định tại thời điểm Nhà nước có thông báo thu hồi đất; đối với các trường hợp thành viên trong gia đình có nhiều thế hệ tuy vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng không thực tế sinh sống trên thửa đất tại thời điểm có thông báo thu hồi đất thì không được xét bố trí thêm 1 thửa đất ở.

Đối với trường hợp thứ hai: Trường hợp có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 1 thửa đất ở bị thu hồi.

Căn cứ các quy định liên quan đến việc thể hiện thông tin người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất tại các thông tư của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thì:

Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà những người được hưởng thừa kế có văn bản thỏa thuận chưa phân chia thừa kế và đề nghị cấp 1 giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để thừa kế thì cấp 1 giấy chứng nhận cho người đại diện đó. Văn bản thỏa thuận phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Trên giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định về việc ghi thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, dòng tiếp theo ghi "Là người đại diện của những người được thừa kế gồm:... (ghi lần lượt tên của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất)" thì giấy chứng nhận được cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của từng người.

Trên mỗi giấy chứng nhận ghi thông tin đầy đủ về người được cấp giấy chứng nhận theo quy định nêu trên; tiếp theo ghi "cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc cùng sử dụng đất hoặc cùng sở hữu tài sản) với... (ghi lần lượt tên của những người còn lại có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)".

Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất mà có thỏa thuận bằng văn bản cấp 1 giấy chứng nhận cho người đại diện (có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật) thì giấy chứng nhận được cấp cho người đại diện đó. Trên giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định về việc ghi thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, dòng tiếp theo ghi "Là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất (hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất) gồm:... (ghi lần lượt tên của những người cùng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất)".

Trường hợp có nhiều người cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất ghi trên trang 1 không hết thì dòng cuối trang 1 ghi "và những người khác có tên tại điểm Ghi chú của Giấy chứng nhận này"; đồng thời tại điểm Ghi chú của Giấy chứng nhận được ghi: "Những người khác cùng sử dụng đất (hoặc cùng sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất) gồm:... (ghi lần lượt tên của những người cùng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất còn lại)".

Như vậy, theo quy định trên, để xác định trường hợp nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 1 thửa đất bị thu hồi cần căn cứ vào thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ gia đình.

 

Phương Linh, VKSND khu vực 5 - Phú Thọ