Sau hơn 8 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bộc lộ một số hạn chế, nhất là về thủ tục tố tụng còn phức tạp, thủ tục rút gọn chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, quy định về chứng cứ điện tử và tố tụng trên môi trường số chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong khi đó, yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số, đấu tranh phòng, chống tội phạm và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới.
Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) trình tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tháng 8/2026 vừa qua do VKSND tối cao chủ trì soạn thảo, đó là: tố tụng tinh gọn hơn, xử lý nhanh hơn, chính sách phân hóa hơn, kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn và phương thức tố tụng hiện đại hơn; đồng thời bảo đảm đầy đủ quyền con người, quyền công dân và tính khách quan, công bằng của tố tụng hình sự.
Dự thảo Bộ luật (tính đến thời điểm trình tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tháng 8/2026 do Vụ Pháp chế, VKSND tối cao cung cấp cho PV Báo Bảo vệ pháp luật) gồm 514 điều, kết cấu thành 9 phần, 36 chương, bao quát toàn bộ các giai đoạn và lĩnh vực của tố tụng hình sự, tập trung vào 6 nhóm vấn đề lớn.
Trong chuyên đề này, Báo Bảo vệ pháp luật sẽ tập trung đi sâu phân tích, làm rõ 6 nhóm vấn đề lớn trong dự thảo Bộ luật để góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như giá trị của việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự lần này.
    |
 |
| Đồng chí Nguyễn Huy Tiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng VKSND tối cao (thứ 3 từ trái sang) và 5 đồng chí đang công tác trong ngành KSND tham gia Kỳ họp thứ Nhất (tháng 4/2026) để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XVI. |
Bài 3: Hoàn thiện thẩm quyền tố tụng, tăng cường kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người
Hoàn thiện thẩm quyền tố tụng, tăng cường kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người là một trong 6 nhóm vấn đề lớn được quy định trong dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) lần này. Các quy định sửa đổi, bổ sung trong nhóm vấn đề này hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm với tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Hoàn thiện quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng
Đối với Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Dự thảo Bộ luật sửa đổi, bổ sung quy định về hệ thống, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bảo đảm đồng bộ với Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi);
    |
 |
| Đại diện VKSND Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa Chuyên án VN10, tháng 8/2026 (Ảnh minh họa). |
Đối với các quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Tòa án và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng về cơ bản kế thừa các quy định hiện hành đang phát huy hiệu quả.
Hoàn thiện quy định về phân định thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng với những người trực tiếp tiến hành tố tụng
Một trong những điểm đáng chú ý của dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) là việc sửa đổi theo hướng tiếp tục tăng thẩm quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tố tụng để chủ động trong thực thi nhiệm vụ tại các Điều 41, 43, 46 và 49 của dự thảo Bộ luật, cụ thể:
Điều 41 của dự thảo Bộ luật đã bổ sung nhiều thẩm quyền chủ động cụ thể cho Điều tra viên, gồm: quyền quyết định thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài sản; tiến hành nhận biết giọng nói; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này.
Bên cạnh đó, nhằm phát huy tối đa nguồn lực hiện có của lực lượng Công an cấp xã chính quy, giải quyết kịp thời, nhanh chóng các vụ án ngay tại cơ sở và giảm tải áp lực cho Cơ quan điều tra cấp tỉnh, dự thảo Bộ luật đã bổ sung các quy định về thẩm quyền tố tụng của Điều tra viên cấp xã, theo đó, khoản 2 Điều 41 dự thảo Bộ luật đã bổ sung cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã khi được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công có thẩm quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội rất nghiêm trọng nhưng tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng xảy ra trên địa bàn cấp xã.
Dự thảo Bộ luật cũng đã giao cho Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này nhằm bảo đảm việc giao thẩm quyền cho Điều tra viên cấp xã được thực hiện có kiểm soát và thống nhất. Việc mở rộng thẩm quyền còn phải căn cứ cụ thể vào điều kiện nhân lực, tình hình tội phạm của từng địa bàn và thực hiện theo sự phân công, kiểm soát của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh. Sự điều chỉnh này bảo đảm tính kịp thời trong ngăn chặn tội phạm, thu thập chứng cứ ban đầu không bị sai lệch, bảo vệ bình yên cho cuộc sống nhân dân ngay từ cơ sở.
Tương tự, để bảo đảm thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được giao, Điều 43 của dự thảo Bộ luật đã bổ sung một số thẩm quyền cho người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ; trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường; đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói; xử lý vật chứng; quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định...
Điều 46 của dự thảo Bộ luật đã bổ sung cho Kiểm sát viên thẩm quyền quyết định thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.
Điều 49 của dự thảo Bộ luật đã bổ sung cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thẩm quyền quyết định xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Quy định số 183-QĐ/TW
Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Quy định số 183-QĐ/TW (Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 18/9/2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), tại Điều 17 dự thảo Bộ luật đã bổ sung nguyên tắc “Bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Theo đó, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp trái pháp luật, tác động, gây áp lực, đe dọa, trả thù, trù dập hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.
Đồng thời, để cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại Chương XXXIV dự thảo Bộ luật đã bổ sung các quy định cụ thể về việc bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hạn chế biện pháp ngăn chặn, tăng cường các biện pháp thay thế
Sửa đổi quy định về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 116 dự thảo Bộ luật để bảo đảm thống nhất với Bộ luật Hình sự về các trường hợp chuẩn bị phạm tội; sửa đổi quy định về việc khi thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì không cần phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng kiến;
    |
 |
| Đại diện Viện kiểm sát kiểm sát việc thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam trong một vụ án tại thành phố Huế, tháng 8/2026. Ảnh: BCA |
Nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp, dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) thể hiện bước tiến lớn khi thiết kế các quy định theo hướng hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam và tăng cường các biện pháp ngăn chặn thay thế nhân văn hơn, cụ thể:
Nhằm hạn chế tạm giam, tại Điều 125 dự thảo Bộ luật sửa đổi các nội dung: Mở rộng các trường hợp không bị áp dụng biện pháp tạm giam theo hướng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt từ 2 năm đến 3 năm thì chỉ bị tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã (theo Bộ luật hiện hành thì họ bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119);
Dự thảo Bộ luật đã bổ sung biện pháp ngăn chặn mới là “Giám sát điện tử” tại khoản 1 Điều 115 và được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 129 dự thảo Bộ luật nhằm đồng bộ với Luật Tư pháp người chưa thành niên và hạn chế tác động đến quyền con người. Đây là biện pháp ngăn chặn công nghệ cao, việc ứng dụng công nghệ giám sát định vị giúp kiểm soát chặt chẽ bị can mà không cần giam giữ họ, thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong dự thảo Bộ luật.
Khoản 1 Điều 129 dự thảo Bộ luật xác định đây là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải đeo thiết bị giám sát chuyên dụng và làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ: không đi khỏi phạm vi giám sát quy định (điểm a khoản 2 Điều 129), có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan (điểm b khoản 2 Điều 129), không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi cản trở hoạt động tố tụng (điểm c và điểm d khoản 2 Điều 129), đặc biệt là không tháo, phá hủy thiết bị giám sát điện tử hoặc gây rối loạn hoạt động của thiết bị giám sát điện tử (điểm đ khoản 2 Điều 129)…
Các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 129 dự thảo Bộ luật đã quy định cụ thể, đầy đủ về căn cứ, thẩm quyền, thời hạn, trình tự áp dụng, thay thế, hủy bỏ nhằm bảo đảm chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân; đồng thời, bổ sung quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành biện pháp này.
Tại Điều 132 dự thảo Bộ luật bổ sung trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;
Đồng thời, tại Điều 137 dự thảo Bộ luật bổ sung biện pháp “tiền” cưỡng chế tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cụ thể: Khoản 1 Điều 137 quy định: Khi có căn cứ cho rằng cần phải ngăn chặn việc người bị buộc tội hoặc tổ chức, cá nhân khác có hành vi chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại tài sản liên quan đến vụ việc, vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Trường hợp tài sản có thể chia tách được thì chỉ tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với phần tài sản có giá trị tương ứng với giá trị tài sản bị kê biên hoặc tương ứng với số tiền bị phong tỏa tài khoản.
Đây là cơ chế nhằm ngăn chặn việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản trong thời gian cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, xác minh để xem xét kê biên, phong tỏa. Thời hạn áp dụng là 2 tháng; trường hợp phức tạp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 2 tháng. Việc quy định rõ thời hạn, điều kiện xử lý và thẩm quyền gia hạn góp phần tăng cường kiểm soát việc áp dụng biện pháp. Đồng thời, tại khoản 4 Điều 137 đã giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết nội dung này.
Hoàn thiện quy định về thủ tục bào chữa, cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người tham gia tố tụng
Bổ sung trường hợp chỉ định người bào chữa tại Điều 80 dự thảo Bộ luật gồm: Bị can, bị cáo là người chưa thành niên và bị can, bị cáo thuộc trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt. Đồng thời bổ sung quy định đối với trường hợp nêu trên thì không được quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa chỉ định.
    |
 |
| Kiểm sát viên thuộc VKSND khu vực 10, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ được giao, tháng 7/2026 (Ảnh minh họa). |
Cùng với đó, dự thảo Bộ luật cũng hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp từ giai đoạn sớm. Khoản 5 Điều 87 dự thảo Bộ luật quy định: “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tham gia tố tụng từ khi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhận được giấy triệu tập, thông báo làm việc của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”;
Đồng thời bổ sung tại Điều 89 dự thảo Bộ luật thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự. Việc người bảo vệ tham gia từ thời điểm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhận giấy triệu tập, thông báo làm việc góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, đồng thời tăng cường cơ chế phòng ngừa vi phạm trong hoạt động tố tụng.
Bảo đảm quyền con người trong môi trường tố tụng điện tử
Một trong những yêu cầu xuyên suốt của dự thảo Bộ luật là tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong quá trình tố tụng. Điều này được thể hiện ở việc mở rộng khả năng tiếp cận tài liệu của bị can trong bối cảnh số hóa hồ sơ, cụ thể, điểm i khoản 2 Điều 64 dự thảo Bộ luật tiếp tục quy định cho phép bị can có quyền: “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu”.
    |
 |
| Đại diện VKSND trao quà tặng các cháu dưới 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng mẹ và phạm nhân đang mang thai chấp hành án tù tại Trại giam Thủ Đức thuộc Bộ Công an, tháng 5/2026 (Ảnh minh họa). |
Quy định này phù hợp với khái niệm “Tố tụng điện tử” được định nghĩa tại điểm q khoản 1 Điều 4 dự thảo Bộ luật và cụ thể hóa nguyên tắc quy định tại Điều 18 dự thảo Bộ luật về “Hoạt động tố tụng điện tử”, cùng việc lập, quản lý và lưu trữ hồ sơ vụ việc, vụ án dưới dạng điện tử tại khoản 5 Điều 139 dự thảo Bộ luật.
Việc số hóa hồ sơ điện tử và chia sẻ liên thông giữa các cơ quan tố tụng giúp người bào chữa và bị can dễ dàng đọc, ghi chép tài liệu từ xa qua hệ thống điện tử mà không bị gây khó khăn, cản trở bởi các rào cản vật lý hay thủ tục hành chính giấy tờ.
Khoản 4 Điều 64 dự thảo Bộ luật cũng giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi bị can có yêu cầu quy định tại điểm i khoản 2 Điều này.
(còn tiếp)