Ngày 8/6, VKSND khu vực 6 (tỉnh Đắk Lắk) cho biết, đơn vị vừa đã ban hành kiến nghị tổng hợp vi phạm về áp dụng quy định miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

leftcenterrightdel
 Trụ sở VKSND khu vực 6 (tỉnh Đắk Lắk). 

Trước đó, qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình của TAND khu vực 6 (tỉnh Đắk Lắk) từ ngày 1/10/2025 đến ngày 31/5/2026, VKSND khu vực 6 đã kiểm sát tổng số 38 quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Trong đó, phát hiện 13 quyết định có vi phạm trong việc áp dụng quy định về miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đơn cử, Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 26 ngày 20/11/2025 giữa nguyên đơn Phạm Văn Chín, bị đơn Ngô Thị Năm; tổng số tiền án phí 672.000 đồng, số tiền bị đơn được miễn (phần nghĩa vụ của bị đơn) 336.000 đồng, số tiền bị đơn nhận nộp thay cho nguyên đơn 336.000 đồng. Vi phạm: miễn toàn bộ, không thu phần nộp thay 336.000 đồng.

Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 33 ngày 22/12/2025 giữa nguyên đơn Phạm Văn Chín, bị đơn Huỳnh Hùng và Huỳnh Thị Kim Liên; tổng số tiền án phí 358.333 đồng, số tiền bị đơn được miễn (phần nghĩa vụ của bị đơn) 179.167 đồng, số tiền bị đơn nhận nộp thay cho nguyên đơn 179.167 đồng. Vi phạm: miễn toàn bộ, không thu phần nộp thay 179.167 đồng.

Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 35 ngày 31/12/2025 giữa nguyên đơn Vũ Đình Vẻ, bị đơn Lục Văn Hữu và Lý Thị Nhíp; tổng số tiền án phí 2.375.000 đồng, số tiền bị đơn được miễn (phần nghĩa vụ của bị đơn) hơn 1.187.500 đồng, số tiền bị đơn nhận nộp thay cho nguyên đơn 1.187.500 đồng. Vi phạm: miễn toàn bộ, không thu phần nộp thay 1.187.500 đồng.

Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 06 ngày 23/02/2026 giữa nguyên đơn Chu Thị Minh, bị đơn Trần Mạnh Dũng và Quách Thị Thi; tổng số tiền án phí 5 triệu đồng, số tiền bị đơn được miễn (phần nghĩa vụ của bị đơn) 2,5 triệu đồng, số tiền bị đơn nhận nộp thay cho nguyên đơn 2,5 triệu đồng. Vi phạm: miễn toàn bộ, không thu phần nộp thay 2,5 triệu đồng.

Hay Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 07 ngày 23/02/2026 giữa nguyên đơn Trà Thị Trúc Ly, bị đơn Y Xoan Hdruê và H Ngai Kbin; tổng số tiền án phí 9,7 triệu đồng, số tiền bị đơn được miễn (phần nghĩa vụ của bị đơn) 4.850.000 đồng, số tiền bị đơn nhận nộp thay cho nguyên đơn 4.850.000 đồng. Vi phạm: miễn toàn bộ, không thu phần nộp thay 4.850.000 đồng...

Do áp dụng không đúng khoản 7 Điều 26 và khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 326 quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, TAND khu vực 6 đã miễn toàn bộ án phí trong 13 vụ án dân sự nêu trên, làm thất thu ngân sách Nhà nước số tiền hơn 18,6 triệu đồng.

Theo VKSND khu vực 6, vi phạm nêu trên tuy chưa ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án nhưng ảnh hưởng đến việc thực hiện đúng quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, làm thất thu ngân sách Nhà nước và cần được kịp thời khắc phục, chấn chỉnh để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

Để đảm bảo việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, ngày 5/6/2026, Viện trưởng VKSND khu vực 6 văn bản số 450/KN-VKSKV6-DS kiến nghị Chánh án TAND khu vực 6 thực hiện các biện pháp khắc phục.

Cụ thể, rà soát, ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung đối với 13 quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự để xác định lại nghĩa vụ nộp án phí đúng quy định. Đồng thời, buộc các đương sự phải nộp phần án phí không thuộc diện được miễn (phần nhận nộp thay) vào ngân sách Nhà nước với tổng số tiền hơn 18,6 triệu đồng.

Bên cạnh đó, chấn chỉnh, quán triệt các Thẩm phán trong đơn vị về việc áp dụng đúng khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 326: chỉ miễn phần án phí thuộc nghĩa vụ của người được miễn theo quy định; phần án phí mà người đó nhận nộp thay người khác theo thỏa thuận thì không được miễn nộp, phải thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Mặt khác chấm dứt ngay vi phạm về miễn nộp tiền án phí nêu trên trong các trường hợp tiếp theo, bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của Nghị quyết 326.

Viện trưởng VKSND khu vực 6 cũng đề nghị Chánh án TAND khu vực 6 trả lời bằng văn bản cho đơn vị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị./.

Nguyễn Chính