Đây là diễn biến cho thấy hoạt động công tố không chỉ là xử lý nghiêm minh tội phạm. Sự phân hóa rõ rang, không bỏ qua bất cứ tình tiết nào có lợi cho người phạm tội chính là minh chứng cho một nền tư pháp công bằng, nhân văn.

leftcenterrightdel
 Phiên tòa xét xử 227 bị cáo trong chuyên án ma túy VN10.

Công tố không chỉ đề nghị mức án nghiêm khắc

Theo đại diện VKSND TP Hồ Chí Minh, trong một vụ án ma túy có quy mô đặc biệt lớn như VN10, yêu cầu xử lý nghiêm đối với người phạm tội là cần thiết. Ma túy để lại hậu quả đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Nhiều đường dây hoạt động có tổ chức, qua nhiều tầng trung gian, sử dụng công nghệ để che giấu giao dịch và đưa số lượng lớn ma túy vào cộng đồng, các đối tượng được phân chia các vai trò khác nhau trong đường dây ma túy đó, vì vậy, cần thiết phải xét xử với tất cả các đối tượng trên. Nhưng tính nghiêm minh của pháp luật không đồng nghĩa với việc tất cả những người phạm tội đều phải chịu một cách xử lý như nhau.

Mỗi bị cáo có vị trí, vai trò, mức độ tham gia, hành vi và thái độ sau khi phạm tội khác nhau, có người tổ chức, cầm đầu; có người trực tiếp thực hiện; có người tham gia với vai trò thứ yếu. Có bị cáo ngoan cố phủ nhận hành vi, nhưng cũng có người khai báo, hợp tác và cung cấp thông tin góp phần làm rõ thêm những người, những hành vi liên quan. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm sát viên khi đề nghị hình phạt là phân hóa trách nhiệm hình sự đến từng bị cáo. Nếu sự nghiêm khắc cần được áp dụng đúng người thì sự khoan hồng cũng phải được dành đúng trường hợp.

Đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát không phải là một con số bất biến được chuẩn bị trước rồi giữ nguyên trong mọi trường hợp. Tại phiên tòa là nơi chứng cứ tiếp tục được kiểm tra, lời khai tiếp tục được đối chiếu và những tình tiết liên quan đến nhân thân, vai trò, thái độ của từng bị cáo tiếp tục được làm rõ.

Vì vậy, nếu qua xét hỏi và tranh tụng xuất hiện thêm những căn cứ có lợi cho bị cáo thì Kiểm sát viên phải ghi nhận và đó chính là ý nghĩa thực chất của tranh tụng. Kiểm sát viên không chỉ nghe luật sư để chuẩn bị phản bác. Kiểm sát viên còn phải xem trong những điều luật sư, bị cáo trình bày có vấn đề nào đúng, có chứng cứ nào cần ghi nhận, có tình tiết nào làm thay đổi việc đánh giá mức độ trách nhiệm hình sự hay không.

leftcenterrightdel
 Kiểm sát viên tranh luận tại phiên tòa VN10.

Khi có căn cứ, việc điều chỉnh quan điểm theo hướng có lợi hơn cho bị cáo không làm giảm vai trò của công tố. Ngược lại, điều đó cho thấy quan điểm của Viện kiểm sát được hình thành từ chứng cứ và diễn biến thực tế tại phiên tòa, chứ không phải từ yêu cầu phải bảo vệ bằng được đề nghị đã đưa ra trước đó.

Diễn biến mới tại tòa - Căn cứ giảm nhẹ hình phạt

Một trong những diễn biến đáng chú ý tại phiên tòa VN10 là đối với các bị cáo Nguyễn Thị Trúc Ly, Trần Tiến Minh Tân và Vương Lý Vĩnh An. Quá trình giải quyết vụ án, ba bị cáo đã khai nhận hành vi, đồng thời có những lời khai góp phần làm rõ nội dung vụ án và vai trò của những người liên quan.

Trên cơ sở xem xét thái độ khai báo, mức độ hợp tác, vai trò và toàn bộ các tình tiết của từng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đã chủ động đề nghị Hội đồng xét xử giảm đáng kể hình phạt, xem xét áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với ba bị cáo theo quy định của pháp luật.

Điều đáng chú ý ở đây không chỉ nằm ở việc “giảm bao nhiêu năm tù”. Giá trị lớn hơn là quan điểm xử lý được thể hiện rất rõ: người có hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm, nhưng thái độ sau khi phạm tội và sự hợp tác thực chất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải được pháp luật ghi nhận. Chính sách hình sự vì vậy không chỉ có trừng trị mà còn có giáo dục, cải tạo và khuyến khích người phạm tội nhận thức sai phạm, hợp tác làm sáng tỏ sự thật.

Trong cùng một phiên tòa, Viện kiểm sát có thể đề nghị mức án cao nhất đối với người tổ chức, cầm đầu, thực hiện hành vi đặc biệt nguy hiểm. Đồng thời đề nghị giảm đáng kể hình phạt đối với những bị cáo khác. Hai quan điểm tưởng như đối lập nhưng thực chất cùng xuất phát từ một nguyên tắc: Cá thể hóa trách nhiệm hình sự và ghi nhận điều có lợi cho bị cáo cũng là trách nhiệm của công tố.

leftcenterrightdel
 Kiểm sát viên đề nghị mức án cho các bị cáo tại phiên tòa VN10.

Sự nhân văn được đặt trên nền tảng pháp luật

Khoan hồng trong tố tụng hình sự không phải xuất phát từ cảm tính hay sự thương cảm đơn thuần. Mỗi đề nghị giảm hình phạt đều phải có căn cứ pháp luật và được đặt trong tương quan với hành vi, vai trò của bị cáo. Chính điều này tạo nên giá trị nhân văn của pháp luật hình sự: người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm về việc mình đã làm, nhưng nếu họ thực sự nhận thức được sai phạm, hợp tác với cơ quan tố tụng, góp phần làm rõ vụ án và có những tình tiết đáng được xem xét thì pháp luật dành cho họ cơ hội được hưởng sự khoan hồng tương xứng.

Sự khoan hồng có căn cứ cũng gửi đi một thông điệp đến những người đang liên quan đến các đường dây tội phạm. Khi hợp tác với cơ quan chức năng, khai báo trung thực và góp phần làm rõ tội phạm là những hành vi có giá trị và sẽ được pháp luật xem xét khi quyết định hình phạt.

Nếu chỉ nghiêm khắc mà không phân hóa, hình phạt có thể không phản ánh đầy đủ sự khác nhau về vai trò của từng người. Ngược lại, nếu khoan hồng không có căn cứ thì sẽ làm giảm tính nghiêm minh và hiệu quả phòng ngừa của pháp luật. Vì vậy, Kiểm sát viên phải làm một công việc khó hơn việc đơn thuần lựa chọn một mức án. Khi xác định ai cần xử lý nghiêm, ai có cơ sở để giảm nhẹ và mức độ giảm đến đâu mới tương xứng. Đó là sự cân nhắc giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi với nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và thái độ của người phạm tội trong suốt quá trình tố tụng.

Bản lĩnh công tố không chỉ thể hiện ở lúc buộc tội

Có quan niệm cho rằng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên là tìm những chứng cứ bất lợi và đề nghị mức án càng nghiêm càng thể hiện sự kiên quyết. Nhưng chức năng thực hành quyền công tố không được hiểu như vậy. Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh tội phạm, nhưng đồng thời phải đánh giá đầy đủ cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, cả tình tiết bất lợi và tình tiết có lợi cho bị cáo.

Nếu có một căn cứ giảm nhẹ mà không ghi nhận, việc đề nghị hình phạt sẽ không còn khách quan. Nếu luật sư đưa ra một tài liệu có giá trị mà Kiểm sát viên bỏ qua chỉ vì tài liệu đó có lợi cho bị cáo thì tranh tụng cũng mất đi ý nghĩa thực chất. Do đó, việc chủ động đề nghị giảm hình phạt khi có căn cứ không phải là sự “nhẹ tay” đối với tội phạm. Đó là thực hiện đúng trách nhiệm của người đại diện cho quyền công tố.

leftcenterrightdel
 Các bị cáo tại phiên tòa.

Tại một phiên tòa lớn, hình ảnh dễ gây ấn tượng nhất có thể là lúc Kiểm sát viên công bố bản luận tội, đối đáp với luật sư hoặc đề nghị những mức hình phạt nghiêm khắc. Nhưng còn một biểu hiện khác của bản lĩnh nghề nghiệp ít ồn ào hơn khi dám thay đổi một đề nghị theo hướng có lợi cho bị cáo khi chứng cứ và diễn biến phiên tòa cho thấy cần phải thay đổi.

Bởi việc giữ nguyên một quan điểm đã đưa ra bao giờ cũng dễ hơn việc công khai nhìn nhận những tình tiết mới và điều chỉnh quan điểm của chính mình. Người Kiểm sát viên không đại diện cho mong muốn kết tội bằng mọi giá mà đại diện cho việc thực thi pháp luật, vì vậy, khi cần nghiêm khắc phải kiên quyết, khi có căn cứ khoan hồng cũng phải chủ động đề nghị khoan hồng.

Sự công bằng của công tố không chỉ được đo bằng việc xử lý được bao nhiêu người phạm tội hay đề nghị bao nhiêu mức án nghiêm khắc, mà còn được thể hiện ở việc không để một tình tiết có lợi chính đáng nào của bị cáo bị bỏ qua.

Phiên tòa VN10, qua việc Viện kiểm sát đề nghị giảm đáng kể hình phạt đối với một số bị cáo, đã cho thấy rõ điều đó. Nghiêm trị đúng người là bảo vệ pháp luật; khoan hồng đúng người cũng là bảo vệ pháp luật. Và giữa hai yêu cầu ấy, trách nhiệm của Kiểm sát viên là tìm ra một mức xử lý vừa có căn cứ, vừa tương xứng và công bằng đối với từng con người cụ thể./.

Trân Định - Thanh Bình - Phương Nam