Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, tăng hình phạt tù đối với bị cáo

Theo nội dung vụ án, khoảng 8h30’ ngày 23/3/2026, Chim Văn Ngọp (SN 1992, trú tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu) điều khiển xe mô tô lên bản Đầu Nậm Xả, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu tìm mua ma tuý để sử dụng.

Đến khoảng 9h cùng ngày, Ngọp đến bản Đầu Nậm Xả, tại đây, đối tượng gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ (không rõ nhân thân, lai lịch) qua trao đổi, Ngọp đã đưa cho người đàn ông này 1 triệu đồng để đi mua Heroin.

Nhận tiền từ Ngọp người đàn ông vào trong bản Đầu Nậm Xả, khoảng 10 phút sau quay lại và đưa cho Ngọp 1 gói Heroin.

Sau khi nhận được “hàng”, Ngọp cất giấu vào trong túi áo đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà.

Đến 10h30’ cùng ngày, khi Ngọp đi đến bản Nà Hẻ, xã Bum Nưa, thì gặp Tổ công tác Công an xã Bum Nưa đang làm nhiệm vụ, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói Heroin trên người Chim Văn Ngọp.

Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật. 

Tại bản Kết luận giám định số 285/KL-KTHS, ngày 25/3/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số chất bột, màu trắng thu giữ của  Chim Văn Ngọp có khối lượng 3,28g; mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Chim Văn Ngọp gửi giám định là ma túy, loại Heroin”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2026/HS-ST ngày 9/7/2026 của TAND khu vực 4, tỉnh Lai Châu đã áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chim Văn  Ngọp 3 năm 3 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

leftcenterrightdel
 Đồng chí Nguyễn Hùng Khánh, Viện trưởng VKSND khu vực 4, tỉnh Lai Châu nghe Kiểm sát viên báo cáo án.

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát bản án sơ thẩm, VKSND khu vực 4, tỉnh Lai Châu nhận thấy, Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2026/HSST của TAND khu vực 4 xét xử bị cáo Chim Văn Ngọp về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật. 

Tuy nhiên, căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Chim Văn Ngọp xét thấy mức án mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là chưa tương xứng với hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cụ thể: 

Khối lượng Heroin mà bị cáo Ngọp tàng trữ mục đích để sử dụng là 3,28g. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khối lượng ma túy từ 0,1g đến 5g có mức hình phạt từ 3 năm đến 5 năm tù.

Khối lượng ma túy 3,28g mà bị cáo Ngọp tàng trữ tương đương 65,6% của 5g cùng với đó cũng tương đương 65,6% của mức hình phạt 5 năm tù.

Với mức hình phạt 3 năm 3 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Chim Văn Ngọp là chưa đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật cũng như tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. 

Vì các lẽ trên, Viện trưởng VKSND khu vực 4, tỉnh Lai Châu Quyết định kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm 141/2026/HSST ngày 9/7/2026 của TAND khu vực 4 về quyết định hình phạt đối với bị cáo Chim Văn Ngọp. 

Đề nghị TAND tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án sơ thẩm tăng mức hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Lai Châu đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát, tuyên phạt bị cáo Chim Văn Ngọp 3 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Viện kiểm sát kháng nghị, làm rõ sai sót trong xử lý vật chứng

leftcenterrightdel
 Kiểm sát viên Phòng 7, VKSND tỉnh Lai Châu thực hành quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xét xử bị cáo Chim Văn Ngọp.

Hồi 12h30’ ngày 5/5/2025, Công an xã Khoen On, tỉnh Lai Châu triệu tập Lò Văn Thuận (SN 1991, trú tại bản On, xã Khoen On) đến trụ sở Công an xã để kiểm tra, xác minh tình trạng nghiện ma túy, kết quả kiểm tra Thuận dương tính với ma túy.

Thuận khai nhận có sử dụng ma túy là Heroin và Hồng phiến mua của Vừ A Dong, trú tại bản Noong Quang, xã Khoen On.

Quá trình mua bán, thanh toán được trao đổi bằng hình thức nhắn tin qua Message và chuyển khoản qua ứng dụng Vietinbank iPay trên điện thoại di động. Thuận đã giao nộp 1 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen.

Qua lời khai của Thuận, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vừ A Dong, thu giữ 1 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh.

Tiến hành khôi phục dữ liệu điện tử trên điện thoại di động của Vừ A Dong và Lò Văn Thuận kết quả xác định có tin nhắn Message trao đổi mua bán Heroin và Hồng phiến giữa Vừ A Dong với Lò Văn Thuận.

Kiểm tra ứng dụng Ngân hàng Vietinbank iPay trên điện thoại của Lò Văn Thuận, Vừ A Dong và bản sao kê chi tiết giao dịch xác định, có giao dịch chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Lò Văn Thuận đến tài khoản ngân hàng của Vừ A Dong số tiền 350.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HSST của TAND khu vực 2, tỉnh Lai Châu đã tuyên phạt bị cáo Vừ A Dong phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo 2 năm 6 tháng tù.

Đồng thời, trả lại cho Lò Văn Thuận 1 điện thoại di động OPPO, màu đen có lắp sim (đã qua sử dụng)…

Quá trình kiểm sát bản sơ sơ thẩm, VKSND tỉnh Lai Châu (Phòng 7) nhận thấy, Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HSST của TAND khu vực 2 xét xử bị cáo Vừ A Dong về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 2 năm 6 tháng tù là có căn cứ pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với 1 chiếc điện thoại di động REALME (đã qua sử dụng) của bị cáo Vừ A Dong là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội bản án sơ thẩm tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ pháp luật.

Đối với vật chứng là 1 điện thoại di động OPPO, màu đen có lắp sim (đã qua sử dụng) thu giữ của Lò Văn Thuận, là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Bản án sơ thẩm nhận định “không phải công cụ, phương tiện phạm tội” và tuyên trả lại cho Thuận là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.

Theo đó, Lò Văn Thuận đã sử dụng điện thoại của mình để nhắn tin trao đổi mua bán ma túy với Vừ A Dong; đồng thời, Thuận cũng đã sử dụng điện thoại của mình để chuyển tiền mua Heroin và Hồng phiến từ tài khoản của mình đến tài khoản của Dong.

Như vậy, các dữ liệu điện tử đã trích xuất xác định điện thoại của Thuận có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Vừ A Dong, đây là vật chứng, vật mang dấu vết tội phạm (Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự) được sử dụng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong vụ án này, hành vi của Lò Văn Thuận đã bị Công an xã Khoen On xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 21 và Điều 26 Luật xử phạt vi phạm hành chính (Luật số 15/2012/QH13) thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì bị tịch thu xung vào ngân sách Nhà nước, nhưng do chiếc điện thoại của Lò Văn Thuận đã bị thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án (đây là vật chứng của vụ án).

Do đó khi xử lý vật chứng đối với chiếc điện thoại này thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, là phải tịch thu hóa giá để nộp ngân sách Nhà nước mới đảm bảo có căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm số 31/2025/HSST của TAND khu vực 2 lại áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại vật chứng là chiếc điện thoại OPPO thu giữ của Lò Văn Thuận là chưa đúng.

Vì các lẽ trên, Viện trưởng VKSND tỉnh Lai Châu kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm 31/2025/HSST của TAND khu vực 2 về quyết định xử lý vật chứng.

Đề nghị TAND tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án sơ thẩm theo hướng tịch thu chiếc điện thoại di động OPPO của Lò Văn Thuận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Lai Châu đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm, tịch thu chiếc điện thoại di động OPPO của Lò Văn Thuận để hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Mạnh Hải