(BVPL) - Cáy là con trai độc nhất của vợ chồng ông Lượng. Hai vợ chồng ông lấy nhau từ năm 1950, nhưng ông cứ đi bộ đội biền biệt suốt, mãi sau khi hòa bình lập lại, ông bà mới được ở gần nhau. Trong mấy năm, bà Lượng sinh liền ba đứa con nhưng toàn là con gái. Hai vợ chồng ông bà cứ mong mỏi có đứa con trai để nối dõi tông đường mà chưa được nên hay buồn phiền, lo lắng. Nghe lời khuyên của họ hàng, hai vợ chồng ông đưa nhau đi xem bói khắp nơi, ở đâu thầy cũng bảo:

 


- Gia đình ông bà hiếm hoi, cho nên không đứa con trai nào trụ lại được đâu. Giờ, hai vợ chồng phải chịu khó lên chùa Hương Tích, xin con thần, con thánh về mà nuôi.

Thế là lúc đứa con gái thứ ba mới được hơn một tuổi, hai vợ chồng ông Lượng đã khăn đùm tay nải lên chùa. Vậy nhưng, cũng phải đến ba năm liền lễ bái, bà Lượng mới có thai và quả nhiên sau đó sinh được một cậu ấm. Hai vợ chồng ông Lượng mừng lắm, quý thằng bé như vàng. Ông bà Lượng đặt tên con là Cáy. Có điều lạ là thằng bé rất hay khóc đêm. Ngay đến khi đã đầy năm nhưng cứ đến đêm khi tắt đèn là nó lại dậy khóc, không ngủ nữa. Lớn lên thì thằng bé suốt ngày đổ mồ hôi trộm, vợ chồng ông nghe lời hàng xóm cho ăn hết thịt cóc đến những thứ quý hiếm. Nhưng rồi, lúc nào cũng vậy, người Cáy cứ đầm đìa mồ hôi, mà không chỉ ban ngày do nô đùa nghịch ngợm đã đành, càng ban đêm lại càng nhiều. Vào mùa Đông dù ngoài trời rét căm căm nhưng hễ đắp chăn vào cho Cáy là mồ hôi của nó lại chảy đầm đìa.

Lên ba tuổi, Cáy là đứa trẻ rất ngoan ngoãn, bố mẹ bảo gì cũng nghe, nói gì cũng theo, nếu lỡ nghịch gì có lỗi thì bố chỉ cần quắc mắt lên hay mẹ quát một tiếng là nó đã mếu máo, run run, khoanh tay lại: “Con xin lỗi bố ạ” hoặc “Con xin lỗi mẹ ạ”. Ở làng quanh năm yên tĩnh vắng vẻ, thỉnh thoảng ở đâu có cãi vã là người ta ầm ầm kéo đến xem đông như hội. Những lần như thế, mặc dù cả ba chị gái đều bỏ nhà đi xem nhưng Cáy vẫn chỉ thập thò ở cổng nhìn ra. Nếu chuyện xô xát xảy ra ở ngay bên hàng xóm, hay trước cửa nhà mình thì thằng bé đóng chặt cửa, chỉ dám nhìn trộm qua khe cửa. Thế nên, bố mẹ nó thường bảo: giống y như tên, đúng là nó “nhát như cáy”.

Năm 1979, Cáy được gọi đi bộ đội, luyện tập mấy tháng rồi ra chiến trường. Chẳng biết hắn nghe ai bảo, lấy ngón tay trỏ bịt lên đầu nòng súng giật cò, thế là không bóp được cò súng nữa, tức khắc sẽ được về địa phương. Cáy suy đi tính lại mãi rồi cuối cùng, trong một đêm, khi tới phiên gác chỉ có mỗi một mình hắn, cả doanh trại bỗng nghe tiếng súng nổ. Người ta chạy ra thì đã thấy tay Cáy máu chảy đầm đìa, dọc suốt từ cánh tay phải xuống tận tới nách, còn Cáy thì đang trong tư thế kêu trời: “Ối! ối! ối!...”. Sau khi băng bó xong, hắn hoàn hồn nhìn lại thì mới biết là: đáng ra phải bịt ngón tay trỏ thì nó lại bịt ngón giữa, thế là vẫn còn tay bóp súng. Tất nhiên, Cáy vẫn phải tiếp tục lẽo đẽo theo nghề binh nghiệp.

Cho đến năm 1983, Cáy mới được giải ngũ. Được giải ngũ, bình thường, anh lính nào cũng muốn xin chuyển ngành về cơ quan này hay khác hoặc sẽ kiếm một địa chỉ của ông anh, bà bác ở một thành phố nào đó để chuyển về; bởi đó là cơ sở làm ăn có thể đi lên được. Cáy lại khác, hắn xin về thẳng địa phương. Về nhà tối hôm trước thì sáng hôm sau, khi thấy bố vác cày ra đồng, hắn giằng lấy và bảo bố:

- Hôm nay, bố ở nhà để con đi cày cho.

Lâu lắm, kể từ những năm 1976; 1977 tới lúc ấy là gần mười năm ở làng mới có bộ đội về phục viên. Một anh lính trẻ, khỏe mạnh, trình độ cấp III mà lại yêu làng xóm, hăng say với nghề nông, quả cũng hiếm. Bao nhiêu cô gái mới lớn ở tuổi mười tám, hai mươi, cô nào cũng nghĩ về Cáy và tìm cách tỏ tình với hắn. Có cô cấy ruộng bên cạnh, lợi dụng ngày mưa rét, nhảy sổ sang đón giữa đường cày, xin Cáy miếng trầu ăn cho ấm bụng. Có cô đi họp thanh niên, tới tiết mục văn nghệ thì cứ đòi hát song ca với Cáy. Có cô mang cơm ra đồng cho bố mẹ, lại tìm cách đi vòng qua chỗ Cáy đang be bờ tát nước, rồi tự nhiên, sẻ hẳn một nửa bát thịt kho sang phần cơm của hắn. Nhưng rồi cuối cùng, Cáy lại nói với bố mẹ sang nhà bà cụ Dương bên xóm Chùa, xin cô Lột về làm vợ. Tụi con gái trong làng thấy bị mất món bở, cô nào cũng hậm hực, tức tối bảo nhau:

- Làm người còn chả nên cơm nên cháo gì, chứ lại là Cáy Lột ọp à ọp ẹp, thì còn nên trò trống gì?

Từ ngày ấy, Cáy bực mình, sửa ngay tên mình trong giấy khai sinh thành Cậy, Nguyễn Văn Cậy.

Nhờ chịu thương chịu khó, yên phận làm ăn, vợ chồng Cậy được bố mẹ cho ra ở riêng và ngày càng làm ăn khấm khá. Quanh năm ngày tháng, chẳng quản ngày nắng, ngày mưa, tháng ba hay tháng bảy, hai vợ chồng Cậy đều cặm cụi, tất bật ngoài đồng chí thú làm ăn. Lúc đầu thì đủ ăn, sau dư dật chút ít thì để ra được hai, ba tạ thóc một năm. Đến khi thầu ao nuôi cá, thầu đất trên núi trồng cây ăn quả, rồi lại bỏ vốn chăn nuôi hàng chục con lợn nái, sau đó là hàng trăm con lợn thịt thì có năm, vợ chồng Cậy để ra được bạc tỉ. Cô Lột cũng đẻ sòn sòn luôn một thôi ba đứa con: một gái, hai trai. Cả làng lúc ấy lại bàn tán:

- Quả thật, thằng Cậy là con thần con thánh, chứ không phải là con lão Lượng.

Người ta nói thế bởi vì, cứ trông đường con cái Cậy đã hơn hẳn bố, còn đường làm ăn thì Cậy còn giỏi hơn gấp nhiều lần. Hết năm này qua năm khác, hai vợ chồng chẳng bao giờ to tiếng với nhau, cũng không bao giờ cãi vã, gây lộn với hàng xóm. Có đi họp gì, Cậy chỉ ngồi im, lắng nghe và hút thuốc lào từ lúc tới đến lúc về, mặc chủ tọa “Mời các đồng chí phát biểu” hay “Còn ai có ý kiến gì không”. Thậm chí, có lần người ta chỉ đích danh: “Mời đồng chí Cậy có ý kiến”, hắn cũng xua tay, lắc đầu từ chối và ngồi nguyên như cũ.

Vợ chồng Cậy bắt đầu nổi tiếng khi xây được ngôi nhà hai tầng ngay trên mảnh đất hắn đấu thầu được của Ủy ban xã, trên con đường lên huyện. Xung quanh nhà là mấy sào vườn xanh mướt mát; ở chính giữa là tòa villa tường trắng ngói đỏ. Nghe nói, đó là mẫu nhà villa phố núi mà hắn nhập tâm được từ ngày đi bộ đội. Trước khi xây, hắn còn dẫn một anh kỹ sư lên tận Sa Pa để vẽ lại mẫu. Mấy lần xã giới thiệu ra làm Chủ nhiệm hợp tác xã, Cậy đều lắc đầu nguây nguẩy. Có người hỏi:

- Chú biết làm ăn, vậy mà chú lại không ra giúp đỡ mọi người. Ai lại để xã mình xập xệ nhất huyện, nhất tỉnh thế này?

Cậy lắc đầu:

- Em không dám đâu, em sợ lắm.

Có ai hỏi sợ cái gì thì hắn chỉ cười toe toét rồi bỏ đi. Có lần, xã mời Cậy ra để làm chỉ huy tự vệ của xã. Trước là bộ đội, nay đã phục viên, giờ ra phụ trách tự vệ điều đó là hợp lý, cho nên ai cũng nghĩ: “Đợt này, chắc thằng Cậy chẳng còn lý do gì để chối nữa”. Nhưng rồi hắn vẫn chối. Hỏi tại sao, hắn đưa bàn tay cụt một ngón ra bảo:

- Chân tay em thế này có bắn được súng đâu mà phụ trách tự vệ.

Mọi người ai cũng thấy bàn tay hắn chỉ có bốn ngón, nhưng cũng chẳng ai nhớ chính xác là thiếu ngón nào nên cũng tin và bỏ qua chuyện này. Nhưng sau khi vợ chồng Cậy được tuyên dương là nông dân làm ăn giỏi trong Đại hội toàn tỉnh thì người ta dự kiến đưa hắn lên làm Chủ tịch xã. Ngay từ khi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân thì hắn đã trúng trăm phần trăm phiếu. Khi họp Hội đồng nhân dân, bầu Chủ tịch xã, hắn lại trúng trăm phần trăm tiếp. Thế là Cậy buộc phải nhận chức Chủ tịch, nhưng ngay từ hôm đầu họp Ủy ban để phân công, có cả cán bộ huyện xuống dự, Cậy tuyên bố xanh rờn:

- Tôi chỉ có thể ra Ủy ban ngồi ghế Chủ tịch làm việc một buổi và tôi tự nguyện không lấy lương, còn lại một buổi phải để tôi làm việc nhà.

Ai nói gì hắn cũng mặc. Cuối cùng hắn nói cùn:

- Nếu không thì tôi thôi không làm nữa.

Hầu hết cán bộ trong xã không ai đồng ý với ý kiến của hắn, bởi làm Chủ tịch mà không nhận lương thì những người khác có chức tước, là cán bộ trong xã cũng không có lương thì sống làm sao được. Thấy không khí cuộc họp quá căng thẳng, có thể đi vào bế tắc, ông cán bộ ở huyện dịu giọng:

- Thôi cứ từ từ. Chúng ta cứ chấp nhận yêu cầu của đồng chí Cậy đã rồi chúng ta sẽ có cách giải quyết tiếp.

Sau đó mọi người trong làng đồn thổi:

- Thằng Cậy ra làm Chủ tịch, kỳ này khối thằng tức hộc máu mồm. Chúng nó phải chạy mất bạc trăm, bạc nghìn mà lại không trúng, còn cái thằng chối đây đẩy thì cuối cùng lại trúng, mà lại trúng trăm phần trăm nữa.

Cũng có người nói:

- Cái chức Chủ tịch có giá như vậy, chẳng qua là vì xã còn mấy chục mẫu thổ đấu ven đường ven đê. Thế nên, ngồi vào được cái ghế Chủ tịch thì tha hồ trông vào đó mà kiếm chác, chứ nếu hết cả thùng đấu thì có các vàng người ta cũng chẳng tranh nhau như vậy.

Cậy lên làm Chủ tịch mới được mấy ngày mà ngày nào cũng có khách tới nhà nườm nượp: khách đi chân đất có, đi xe đạp, xe máy có, thậm chí cả ô tô sang trọng cũng có. Có người đến tay không với lời nói tử tế: “Chú làm ơn giúp tôi”. Có người mang hẳn một cặp rượu Tây đến “Xin nhờ bác giúp”. Lại có những kẻ mang một cái ti vi màu, màn hình phẳng vừa khệ nệ ôm vừa nói: “Giờ nhà bác đông khách phải lắp cái này chơi cho sang”. Có người mang chiếc xe đạp mới tinh đến bảo: “Để cho các cháu đi học đỡ vất vả”. Cũng có tay mang hẳn chiếc xe máy: “Bây giờ làm Chủ tịch, bác phải đi cái thứ này thì người ta mới nể”. Lúc đầu, Cậy lắc đầu từ chối hết thảy, nhưng rồi người ta cứ bỏ đấy, người ta về. Thấy vợ con xúm xít mừng reo, hắn cũng thấy vui vui và cuối cùng hắn đã táy máy mở nút nọ, bật nút kia. Chẳng mấy chốc, tất cả những thứ mà mọi người mang đến bỗng trở thành của riêng gia đình Cậy.

Sáu tháng sau, tỉnh có chủ trương xây dựng xã của Cậy thành nông thôn mới. Cái khó nhất là ở đâu, bây giờ người ta kêu nhất về vấn đề kinh phí, nhưng rồi ai cũng nói:

- Xã này có mấy chục mẫu thùng đấu, tha hồ có kinh phí để xây dựng nông thôn mới, còn lo gì nữa.

Thế mà Cậy cứ hết lần này đến lần khác đứng lên, ngồi xuống, rồi lại đứng lên thưa trình:

- Xin lỗi cán bộ các cấp là xã em không dám nhận xây dựng nông thôn mới. Vì xã em, dân còn nghèo không có kinh phí.

Người ta bảo:

- Kinh phí ở mấy chục mẫu đất chứ ở đâu?

Cậy phân trần:

- Bảo mang tiếng còn mấy chục mẫu thật nhưng nay mai người ta còn sinh con đẻ cái, bộ đội phục viên sau này xin về quê định cư, còn không biết bao nhiêu việc nữa. Giờ bán đi lấy tiền rồi sau này lấy gì mà lo cho dân.

Ai cũng bảo: “Thằng Cậy là cái thằng dở hơi. Các cụ đã bảo: “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”. Một khóa Chủ tịch chỉ có hai năm, dẫu được tín nhiệm chăng nữa thì thêm một khóa nữa là bốn năm, quay đi quay lại về làm dân. Thế mà cái gì cũng dè xẻn để dành. Để dành cho ai?”. Nhưng rồi, dù Chủ tịch không muốn, quan chức trong xã muốn, huyện muốn. Thế là công cuộc xây dựng nông thôn mới bắt đầu.

Khi có quyết định cho đấu giá những miếng đất thùng đấu thì nhà Cậy lúc nào cũng lại có người đến. Nhanh nhất và to mồm nhất là những người đã đến chúc mừng Cậy ngay từ khi hắn mới trúng chức Chủ tịch. Lần này, họ còn mang theo những món quà lớn hơn, to hơn, sang trọng hơn như: tủ lạnh, tủ giặt, tủ sấy, bếp ga, điều hòa, lò vi sóng... Ai cũng nói: “Kỳ này, bác phải nhớ đến em”. Càng gần đến ngày họp để tiến hành đấu giá thì nhà của Cậy càng đông khách. Và cái bệnh đổ mồ hôi trộm ngày xưa của hắn lâu nay vốn đã khỏi, tự dưng giờ lại tái phát, thậm chí còn nặng và nghiêm trọng hơn trước. Hắn chỉ có việc ngồi tiếp khách mà suốt ngày mồ hôi đầm đìa như tắm, quạt trần, quạt treo tường cũng không đủ mát. Căn phòng khách có 40m2 đã lắp đến hai cái điều hòa mà mồ hôi của Cậy vẫn đổ ra như tắm. Hắn mất ăn, mất ngủ. Càng sát đến ngày đấu thầu thì mặt hắn cắt không còn một giọt máu, người cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn như kẻ mất hồn. Ban ngày tiếp khách, ai nói gì hắn cũng chỉ biết hai chữ: dạ, vâng. Thậm chí, nhận quà biếu cũng là do vợ hắn chủ động và bốn mẹ con thay nhau khiêng vào, cất lên đến đầy hai tầng nhà. Đến tối, Cậy cứ ngồi lặng thinh trên bậc tam cấp ở hè nhìn trời đất, trăng sao. Lâu lâu, hắn lại thắp hương, lạy trời lạy đất khấn vái những gì không ai nghe rõ; rồi sau đó, cắm đầy nhang ở cây vạn tuế trước cửa, cũng là thứ người ta biếu.

Đêm hôm ấy, hắn uống thuốc sâu tự tử. Vợ con hắn dậy sớm, định bụng gọi hắn ra ăn sáng thì thấy hắn đã nằm thườn thượt trên giường, bên cạnh là lọ thuốc sâu đã uống hết quá nửa. Người ta báo cáo lên huyện, lên tỉnh. Thế rồi xe lớn, xe nhỏ rú còi inh ỏi, đậu khắp đường lên huyện dài gần 1km trước cửa nhà hắn. Rồi Công an khám nghiệm tử thi, thu thập chứng cứ, quay phim chụp ảnh, hỏi vợ một nơi, hỏi con một nẻo. Cả làng đồn ầm lên về chuyện tự tử của Cậy. Mà đúng ra là người ta đưa ra những nghi án về việc: “Vì sao Cậy lại tự tử?”. Còn chuyện hắn tự tử là chuyện đã rồi, hắn nằm sõng soài trên giường, ai mà chả biết. Người bảo:

- Chắc hắn nợ nần ai cho nên mới có nhà cửa đàng hoàng. Nay, người ta đòi không có trả nên sợ quá mà tự tử.

Có người lại bảo:

- Hắn là con thần, con thánh thì không được tham. Hắn tham như thế này, chết như thế này là do thánh vật.

Có người lại khẳng định chắc như đinh đóng cột:

- Từ ngày hắn lên chức Chủ tịch, mà kể cả trước nay cũng thế, hắn hiền lắm. Người ta bảo, hắn chỉ vâng vâng, dạ dạ. Chủ yếu là cái Lột, con vợ hắn khéo lắm, con mắt nó liếc ngang, liếc dọc. Có khi con Lột tằng tịu với tay nào trên huyện, trên tỉnh, giờ thằng Cậy phát hiện ra bị cắm sừng nên uất ức quá, chết cũng nên.

Chỉ thương mỗi bà mẹ Cậy nay đã ngoài bảy mươi tuổi, lưng còng tóc bạc. Tuy mắt bà không đủ tinh tường để nhìn rõ, nhưng cứ nghe chuyện làng xóm, láng giềng bà cũng đủ hiểu. Bà nghẹn ngào nói:

- Tôi đẻ ra nó, tôi biết. Từ lúc sinh ra, nó đã là thằng nhát, bởi nhát nên mới đặt tên là Cáy. Cuộc sống của nó đang yên ổn, bình thường, rồi giờ các ông, các bà bắt nó lên làm Chủ tịch, lại mang quà cáp biếu xén chất đầy nhà nó. Nay mai lại đấu giá thùng đấu, chắc rồi thế nào chả có tiền lót tay, có tiền hoa hồng, rồi trên Ủy ban lại túm năm tụm ba chia chác với nhau. Chính vì vậy nó sợ, sợ đến nỗi không dám sống nữa nên phải chết. Âu cũng là số nó.  

Bà nói thì bà nghe, còn các cấp chính quyền thì người ta không ai tin. Và như thế, cái chết của Cậy mãi mãi là một nghi án, không có câu trả lời rõ ràng.
 

Truyện ngắn của Nguyễn Thiện Luân

.