leftcenterrightdel
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc. Ảnh: TTXVN

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý bất biến: Đảng chỉ mạnh khi có dân tin, và dân chỉ tin khi thấy rõ lợi ích của mình hiện hữu trong từng quyết sách của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đúc kết vô cùng sâu sắc rằng “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Trong kỷ nguyên mới, “Ý Đảng” không phải là những văn bản hành chính khô khan, mà chính là sự kết tinh của trí tuệ lãnh đạo nhằm giải quyết đúng và trúng những nhu cầu sát sườn của xã hội. Mối quan hệ này thực chất là sự cộng hưởng giữa tầm nhìn hoạch định chiến lược và sức sáng tạo vô tận của quần chúng nhân dân, tạo nên một sức mạnh tổng hợp để chèo lái con thuyền đất nước ra biển lớn hội nhập.

Tuy nhiên, chính sự gắn kết mật thiết này đang trở thành mục tiêu tấn công hàng đầu của các thế lực thù địch với những thủ đoạn thâm độc và tinh vi hơn bao giờ hết. Chúng cố tình thổi phồng, cắt ghép những hạn chế trong quản lý nhà nước để vu khống rằng “ý Đảng” và “lòng dân” đang mâu thuẫn, tách rời. Nguy hiểm hơn, chúng gán ghép công tác đấu tranh chống tham nhũng hay việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy hiện nay là “thanh trừng nội bộ” hay “áp đặt thiếu dân chủ”. Đây thực chất là mưu đồ đánh tráo khái niệm, hòng biến những nỗ lực làm trong sạch hệ thống thành nỗi hoài nghi trong nhân dân, từ đó kích động sự bất mãn và hướng dư luận đến tư tưởng đa nguyên, đa đảng, phá vỡ sự ổn định chính trị - xã hội vốn là nền tảng của mọi sự phát triển.

Thực tế 40 năm đổi mới là bằng chứng đanh thép nhất bác bỏ mọi sự xuyên tạc. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD... Những thành tựu này đã khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã kiên trì theo đuổi.

Trong giai đoạn hiện nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định mạnh mẽ: “Ý Đảng, lòng dân hòa quyện làm một để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Điểm mới và thực chất nhất trong giai đoạn này chính là quyết tâm chính trị trong việc sắp xếp tinh gọn bộ máy theo hướng “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”. Đây không phải là cuộc chiến quyền lực như kẻ xấu xuyên tạc, mà là nỗ lực thực chất để giảm chi thường xuyên, tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển, loại bỏ tình trạng “trên nóng dưới lạnh” hay sự chồng chéo chức năng khiến người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn. Kết quả bước đầu trong việc rà soát, cắt giảm các tầng nấc trung gian và đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến chính là minh chứng cho một Đảng biết tự soi, tự sửa để phục vụ nhân dân tốt hơn.

Sứ mệnh của Đảng hiện nay là chèo lái đất nước đạt mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và thành lập nước vào năm 2045. Việt Nam phải trở thành nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp phát triển, thu nhập cao, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Đây không chỉ là khát vọng mà là mệnh lệnh của thời đại.

Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đưa con thuyền đất nước vượt qua những “lực cản” nội tại và ngoại xâm, sự đồng thuận giữa “ý Đảng, lòng dân” trong kỷ nguyên mới phải được chuyển hóa thành những giải pháp quản trị thực chất.

Trước hết, phải thực hiện bước đột phá trong văn hóa thực thi: Chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”. Các cấp ủy và chính quyền cần cụ thể hóa nguyên tắc “nói đi đôi với làm” bằng việc cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính rườm rà thông qua chuyển đổi số toàn diện. Khi mọi giao dịch giữa người dân và chính quyền được thực hiện minh bạch trên môi trường số, sự nhũng nhiễu sẽ bị triệt tiêu, và đó chính là lúc niềm tin của nhân dân được củng cố bằng trải nghiệm thực tế chứ không chỉ qua tuyên truyền. Đặc biệt, cần triển khai hiệu quả cơ chế bảo vệ cán bộ “6 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách), để khơi thông nguồn lực sáng tạo trong bộ máy, tránh tâm lý “phòng thủ”, sợ sai đang làm chậm nhịp độ phát triển.

Thứ hai, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc “số hóa” hoạt động giám sát. Thay vì hoạt động giám sát truyền thống, cần xây dựng các kênh tương tác trực tuyến để người dân phản biện chính sách và giám sát cán bộ một cách trực tiếp, định thời gian thực. Việc công khai kết quả sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế và hiệu quả chi tiêu công trên các nền tảng số sẽ giúp người dân thực hiện quyền “dân kiểm tra, dân giám sát” một cách thực chất, biến mỗi công dân thành một “mắt xích” trong công tác xây dựng Đảng.

Thứ ba, lấy sự hài lòng và mức độ thịnh vượng của nhân dân làm thước đo duy nhất cho năng lực lãnh đạo. Trong kỷ nguyên vươn mình, mỗi quyết sách từ Trung ương đến địa phương phải trả lời được câu hỏi: “Người dân được thụ hưởng gì từ chính sách này?”. Đảng dựa vào dân để tinh gọn hệ thống và ngược lại, nhân dân nhìn vào sự gương mẫu, dấn thân của cán bộ để thắp sáng khát vọng cống hiến.

Sự tỉnh táo, cảnh giác của mỗi công dân trước những thông tin xuyên tạc trên không gian mạng là cần thiết, nhưng “vắc xin” hữu hiệu nhất chính là một xã hội công bằng, một bộ máy liêm chính và một nền kinh tế phát triển bền vững. Khi “ý Đảng” thực sự nằm trong từng nhịp thở của “lòng dân”, đó là lúc khối đại đoàn kết dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch, đưa Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn 2045, vững vàng bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, phồn vinh và hạnh phúc.

Nguyễn Thanh Hoàng