    |
 |
| Theo Cục Thuế, vẫn còn tình trạng thông tin thửa đất chưa được cập nhật đầy đủ dẫn đến việc thông báo nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp không chính xác. (Ảnh minh họa) |
Theo Công văn số 8171/CT-NVT ngày 29/10/2026 của Cục Thuế, đến nay, cơ quan Thuế đã hoàn thành rà soát 95,57% trên tổng số (3.372.799) tờ khai cần rà soát. Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình triển khai thực tế, tại một số địa bàn vẫn còn tình trạng thông tin người nộp thuế (NNT), thông tin thửa đất chưa được cập nhật đầy đủ dẫn đến việc thông báo nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho NNT không chính xác...
Để tập trung hỗ trợ tối đa, tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc cho NNT trong quá trình thực hiện, nâng cao hiệu quả quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Cục Thuế đề nghị Trưởng Thuế các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Theo đó, cơ quan Thuế tiếp tục rà soát, cập nhật đầy đủ, chính xác thông tin NNT, thửa đất và kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế theo chỉ đạo tại Công văn số 3966/CT-NVT ngày 15/6/2026 của Cục Thuế. Tập trung xử lý dữ liệu lịch sử, thông tin sai lệch, trùng lặp và các trường hợp bỏ sót đối tượng quản lý kịp thời điều chỉnh khi có đủ căn cứ theo quy định và hướng dẫn tại Phụ lục kèm theo công văn số 3966/CT-NVT.
Rà soát tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được cập nhật theo địa bàn hành chính 2 cấp: Rà soát danh mục loại đất, loại đường, tổ/thôn, đường/vùng, đoạn đường/khu vực và giá đất; cập nhật địa chỉ thửa đất, mã cơ quan thuế quản lý, địa bàn phát sinh khoản thu. Trường hợp thay đổi cơ quan Thuế quản lý, thực hiện chuyển tờ khai, dữ liệu nợ, nộp thừa và cập nhật trạng thái chuyển địa bàn.
Chủ động khai thác cơ sở dữ liệu ngành Thuế để rà soát, chuẩn hóa dữ liệu nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp về NNT. Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan liên quan trên địa bàn để lên danh sách, đối chiếu dữ liệu đất đai, thông tin biến động về người sử dụng đất và kết quả nộp ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đó, đôn đốc và hướng dẫn NNT nộp tờ khai thuế và điều chỉnh thông tin kịp thời.
Rà soát, chuẩn hóa thông tin về nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: 100% NNT nộp thừa phải được xác nhận số thừa đúng trên chức năng 8.15.1.2. Tra cứu/Cập nhật kết quả rà soát dữ liệu nộp thừa TMS.
Thứ hai, thực hiện việc giải quyết phản hồi, kiến nghị của NNT về nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo chỉ đạo tại công văn số 3383/CT-NVT ngày 25/5/2026 của Cục Thuế.
Theo đó, tổ chức rà soát toàn bộ phản hồi, kiến nghị chưa được giải quyết; phân loại theo nội dung, nguyên nhân, thẩm quyền và thời gian xử lý. Phân công rõ công chức tiếp nhận, xử lý, lãnh đạo kiểm soát và thời hạn giải quyết đối với từng trường hợp; không để bỏ sót, tồn đọng hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Chủ động xác minh, điều chỉnh dữ liệu khi đủ căn cứ; trả lời đúng trọng tâm, nêu rõ căn cứ, kết quả và hướng xử lý. Trường hợp cần xác minh hoặc vượt thẩm quyền, phải thông tin rõ cho NNT, hướng dẫn cụ thể và phối hợp theo dõi đến khi có kết quả giải quyết.
Kiểm tra, giám sát việc cập nhật dữ liệu, phát hành thông báo và xử lý phản hồi. Đối với tồn tại, sai sót, phải xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của công chức, bộ phận và lãnh đạo phụ trách; chấn chỉnh, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác ủy nhiệm thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn.
Tổ chức đánh giá, rà soát công tác tổ chức thực hiện ủy nhiệm thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn: Hợp đồng, phạm vi ủy nhiệm, kết quả thực hiện và trách nhiệm của các bên trong hoạt động ủy nhiệm thu.
Thực hiện đối soát, thanh toán, quyết toán kinh phí ủy nhiệm thu kịp thời theo quy định và hợp đồng; làm rõ trách nhiệm, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các sai phạm theo thẩm quyền. Kiểm tra, đối soát số thu, số đã nộp ngân sách nhà nước và số đã hạch toán trên ứng dụng; kịp thời xử lý các trường hợp thu sai đối tượng, chậm nộp ngân sách nhà nước, đã nộp nhưng chưa cập nhật hoặc còn ghi nhận nợ không đúng thực tế.
Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ NNT về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Cùng với đó, thành lập các tổ công tác hỗ trợ trực tiếp NNT kê khai, nộp thuế và giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho người dân.
Công văn của Cục Thuế nhấn mạnh: Trưởng Thuế tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Cục trưởng Cục Thuế về tiến độ, chất lượng và kết quả triển khai quản lý thuế phi nông nghiệp. Lãnh đạo Thuế tỉnh, thành phố và Trưởng Thuế cơ sở chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao theo địa bàn phụ trách, đặc biệt là kết quả giải quyết phản hồi của NNT trên địa bàn. Lãnh đạo cơ quan Thuế trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các tồn tại, vi phạm (nếu có).