Nguyên tắc giám sát, kiểm tra và các hành vi bị nghiêm cấm

Về nguyên tắc giám sát, kiểm tra, Nghị định nêu rõ: Tuân thủ quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan; bảo đảm tính khách quan, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch.

Tăng cường phối hợp có hiệu quả giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ giám sát, kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong công tác giám sát, kiểm tra.

Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan đại diện chủ sở hữu, doanh nghiệp là đối tượng giám sát, kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong công tác giám sát, kiểm tra.

Bảo đảm không trùng lặp về phạm vi, nội dung, đối tượng, thời gian giữa kiểm toán nhà nước, thanh tra với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám sát, kiểm tra.

Về các hành vi bị nghiêm cấm, Nghị định nêu rõ: Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám sát, kiểm tra: Lạm dụng chức vụ quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng giám sát, kiểm tra; can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của đối tượng giám sát, đối tượng kiểm tra; sử dụng trái pháp luật thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình giám sát, kiểm tra; lập biên bản giám sát, kết luận kiểm tra sai sự thật; giả mạo hồ sơ, tài liệu.

Đối với đối tượng giám sát, đối tượng kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan: Cản trở, chống đối, đe dọa, uy hiếp người thi hành công vụ trong quá trình giám sát, kiểm tra; không chấp hành quyết định giám sát, kiểm tra, yêu cầu của đoàn giám sát, kiểm tra; che giấu, tiêu hủy, giả mạo tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung giám sát, kiểm tra; cung cấp thông tin không đầy đủ, không trung thực, thiếu chính xác. Hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định.

5 chỉ tiêu cơ bản để đánh giá doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Nghị định quy định cụ thể về đánh giá, xếp loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. 

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, chuyên ngành, đặc thù sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu giao các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá doanh nghiệp, bao gồm: Chỉ tiêu 1: Tổng doanh thu; Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận sau thuế; Chỉ tiêu 3: Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE); Chỉ tiêu 4: Giá trị khối lượng thực hiện hoặc giá trị giải ngân đối với dự án đầu tư do doanh nghiệp là cơ quan chủ quản theo Luật Đầu tư công; khoản đầu tư, dự án đầu tư do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt theo quy định; Chỉ tiêu 5: Thực hiện nhiệm vụ được giao.

Việc thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công do Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng; thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh do cơ quan có thẩm quyền giao.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh hoạ.

Nghị định nêu rõ các chỉ tiêu trên được xác định và tính toán từ số liệu trong báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập và công ty mẹ, báo cáo thống kê và tài liệu khác có liên quan theo quy định. 

Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật, các chỉ tiêu trên được xác định và tính toán từ số liệu trong báo cáo tài chính năm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập và công ty mẹ được Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty thông qua và được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước (nếu có), báo cáo thống kê và tài liệu khác có liên quan theo quy định.  

Bên cạnh đó, Nghị định cũng nêu rõ 5 căn cứ để đánh giá, xếp loại doanh nghiệp gồm: Mức độ thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao hằng năm; báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của Công ty mẹ; kết quả giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, có xem xét loại trừ các tác động theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định này; các vấn đề phát sinh tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển của doanh nghiệp.

Phương thức đánh giá, xếp loại doanh nghiệp

Nghị định quy định, cơ quan đại diện chủ sở hữu giao chỉ tiêu đánh giá, xếp loại cho Công ty mẹ phù hợp với lĩnh vực hoạt động, chuyên ngành, đặc thù sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp, nhiệm vụ chiến lược hoặc nhiệm vụ được giao trong năm thực hiện.

Đối với doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định không giao chỉ tiêu 2 và 3 để phù hợp với hoạt động đặc thù của doanh nghiệp; căn cứ các chỉ tiêu được giao để thực hiện đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.

Việc đánh giá doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở so sánh giữa nhiệm vụ, chỉ tiêu do cơ quan đại diện chủ sở hữu giao với kết quả thực hiện.

Đối với chỉ tiêu 1, 2 và 3: Doanh nghiệp có kết quả thực hiện bằng hoặc cao hơn chỉ tiêu được giao đánh giá là Đạt. 

Đối với chỉ tiêu 4: Doanh nghiệp hoàn thành từ 90% trở lên giá trị khối lượng thực hiện hoặc giá trị giải ngân vốn đầu tư theo chỉ tiêu được giao đánh giá là Đạt.

Đối với chỉ tiêu 5: Doanh nghiệp hoàn thành chỉ tiêu được giao về sản lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ bảo đảm tiêu chuẩn quy định được đánh giá là Đạt. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh do cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá là Đạt hoặc không Đạt.

Theo quy định, cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá, xếp loại doanh nghiệp theo hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, xem xét, quyết định loại trừ các yếu tố tác động:

a) Do thực hiện nhiệm vụ chính trị được cơ quan có thẩm quyền giao; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận; việc thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới.

b) Do yếu tố, nguyên nhân khách quan như: Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh và các nguyên nhân bất khả kháng khác được cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá, chấp thuận. 

Kết quả xếp loại doanh nghiệp được phân loại theo 3 mức: Doanh nghiệp xếp loại A, doanh nghiệp xếp loại B và doanh nghiệp xếp loại C theo mức độ hoàn thành các chỉ tiêu do cơ quan đại diện chủ sở hữu giao.

a) Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, căn cứ kết quả thực hiện cho từng chỉ tiêu 1, 2, 3 và chỉ tiêu 4 để xếp loại cho từng doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp xếp loại A khi đồng thời chỉ tiêu 1, 2 và 3 được đánh giá Đạt.

Doanh nghiệp xếp loại C khi có từ 3 chỉ tiêu trở lên không Đạt; hoặc chỉ tiêu 1 và chỉ tiêu 2 được đánh giá không Đạt.

Doanh nghiệp xếp loại B là doanh nghiệp không được xếp loại A hoặc loại C.

b) Đối với doanh nghiệp có hoạt động thường xuyên và chủ yếu là thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, căn cứ kết quả thực hiện cho từng chỉ tiêu 1, 2, 3 và chỉ tiêu 5 để xếp loại cho từng doanh nghiệp như sau:

Doanh nghiệp xếp loại A khi đồng thời chỉ tiêu 1, 5 và 3 được đánh giá Đạt.

Doanh nghiệp xếp loại C khi có từ 3 chỉ tiêu trở lên không Đạt, hoặc chỉ tiêu 1 và chỉ tiêu 5 được đánh giá không Đạt.

Doanh nghiệp xếp loại B là doanh nghiệp không được xếp loại A hoặc loại C.

Nghị định gồm 4 chương, 46 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/12/2025.

P.V