Luật Tư pháp người chưa thành niên (NCTN) số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1, lần đầu tiên thiết lập một cơ chế tương đối toàn diện về xử lý chuyển hướng đối với NCTN phạm tội.

Đây là chính sách lập pháp có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN.

Tuy nhiên, qua thực tiễn bước đầu triển khai cho thấy, bên cạnh những thuận lợi, một số quy định mới còn phát sinh cách hiểu và cách áp dụng chưa thống nhất, nhất là trường hợp NCTN đủ điều kiện xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra, truy tố nhưng vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản nên Cơ quan điều tra (CQĐT) hoặc Viện kiểm sát (VKS) phải chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án (TA) xem xét, quyết định.

Từ thực tiễn kiểm sát hoạt động điều tra trong một vụ án cụ thể có thể đặt ra vấn đề cần trao đổi. Bị can Nguyễn Văn A tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Quá trình điều tra xác định A thuộc trường hợp có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo khoản 2 Điều 37 Luật Tư pháp NCTN; không thuộc các trường hợp không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này; đồng thời đáp ứng các điều kiện tại Điều 39, gồm có chứng cứ xác định đã thực hiện hành vi phạm tội, thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng.

Về nguyên tắc, việc xem xét xử lý chuyển hướng đối với A là phù hợp với mục đích tại Điều 34 và nguyên tắc áp dụng tại Điều 35 Luật Tư pháp NCTN, đồng thời phù hợp với chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự, đặc biệt là nguyên tắc đặt yêu cầu giáo dục, giúp đỡ, phục hồi NCTN lên hàng đầu.

Vướng mắc phát sinh ở chỗ vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản. Theo khoản 5 Điều 55 Luật Tư pháp NCTN, trong quá trình áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, nếu vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì CQĐT, VKS có văn bản kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị TA xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản.

Như vậy, đối với trường hợp này, CQĐT không tự mình quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà phải chuyển hồ sơ đề nghị TA xem xét, quyết định. Đây không phải là việc chuyển hồ sơ để xét xử theo thủ tục thông thường, mà là chuyển hồ sơ để TA thực hiện thẩm quyền tư pháp đặc thù trong thủ tục xử lý chuyển hướng, đồng thời giải quyết quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, TA trả hồ sơ với lý do chưa có hướng dẫn để áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra, truy tố.

Nội dung này không chỉ được Luật Tư pháp NCTN quy định mà còn đã được liên ngành trung ương hướng dẫn tại Thông tư liên tịch (TTLT) số 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 18/12/2025. Cụ thể, khoản 2 Điều 4 TTLT này quy định: đối với vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản, khi thấy NCTN thuộc trường hợp và đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng theo Điều 37 và Điều 39 Luật Tư pháp NCTN thì CQĐT, VKS đang thụ lý, giải quyết vụ án đề nghị TA xem xét, áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản.

Quy định này đã trực tiếp hướng dẫn cơ chế phối hợp trong chính giai đoạn điều tra, truy tố, trong đó xác định rõ chủ thể đề nghị là CQĐT, VKS và chủ thể có thẩm quyền xem xét, quyết định là TA.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 3 của TTLT còn quy định trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án, nếu có căn cứ xác định người chưa thành niên phạm tội thuộc trường hợp và đủ điều kiện được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng theo Điều 37 và Điều 39 Luật Tư pháp người chưa thành niên thì ngay sau khi ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, CQĐT, VKS, TA phải ban hành ngay văn bản yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 55 Luật Tư pháp NCTN.

Quy định này cho thấy việc xử lý chuyển hướng không bị giới hạn ở giai đoạn xét xử, mà được thiết kế như một thủ tục có thể được kích hoạt sớm trong quá trình giải quyết vụ án; đồng thời TA là một trong các chủ thể có trách nhiệm thực hiện thủ tục này khi hồ sơ đã được chuyển đến đúng thẩm quyền.

Đặc biệt, Điều 62 Luật Tư pháp NCTN đã quy định tương đối cụ thể thủ tục TA xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng theo đề nghị của CQĐT, VKS.

Theo khoản 1 Điều 62, ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ vụ án của CQĐT, VKS theo khoản 5 Điều 55 và điểm h khoản 2 Điều 60 của Luật này, Chánh án TA phải phân công một Thẩm phán giải quyết; trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp nếu hồ sơ đã có kế hoạch xử lý chuyển hướng, hoặc yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng nếu hồ sơ chưa có kế hoạch.

Khoản 4 Điều 62 còn quy định trình tự phiên họp, trong đó điểm i khoản 4 Điều 62 giao Thẩm phán quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nếu có căn cứ, đồng thời giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản và công bố nội dung quyết định ngay tại phiên họp.

Như vậy, cả căn cứ thẩm quyền, trình tự tiếp nhận hồ sơ, việc mở phiên họp, thành phần, thủ tục phiên họp và nội dung quyết định của TA đều đã có quy định pháp luật điều chỉnh.

Từ các quy định nêu trên, có thể thấy trường hợp TA trả hồ sơ với lý do chưa có hướng dẫn để áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra, truy tố, từ đó chuyển trả hồ sơ cho CQĐT, là chưa thực sự phù hợp với tinh thần và nội dung của Luật Tư pháp NCTN cũng như TTLT số 12/2025/TTLT.

Trường hợp cần bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc kế hoạch xử lý chuyển hướng chưa đầy đủ, thì TA có thể yêu cầu bổ sung theo cơ chế của Điều 62 Luật Tư pháp NCTN và các quy định liên quan; còn việc trả hồ sơ chỉ vì cho rằng chưa có hướng dẫn chung về xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra là cách hiểu làm thu hẹp phạm vi áp dụng của luật, chưa bảo đảm yêu cầu giải quyết kịp thời, thân thiện, đặt lợi ích tốt nhất của NCTN là mối quan tâm hàng đầu.

Cũng cần trao đổi thêm về nội dung của Công văn số 92/TANDTC-PC ngày 12/2 của TAND tối cao về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất một số quy định của Luật Tư pháp NCTN.

Mặc dù Công văn này chủ yếu hướng dẫn một số vướng mắc phát sinh trong giai đoạn xét xử và ban hành kèm theo các biểu mẫu tố tụng của TA, nhưng tại mục 4 đã khẳng định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nếu bị can là NCTN đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì TA xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo Chương IV Luật Tư pháp NCTN.

Đồng thời, các mẫu kèm theo Công văn số 92/TANDTC-PC, như Mẫu số 01-TPNCTN về thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng và Mẫu số 02-TPNCTN về quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng dành cho Thẩm phán, đều viện dẫn Điều 55, các điều 35, 37, 38, 39 của Luật Tư pháp NCTN. Điều đó cho thấy TAND tối cao đã thừa nhận cơ sở pháp lý để Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo thủ tục riêng, không nhất thiết phải chờ đến phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục thông thường.

Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4 của TAND tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử cũng là văn bản thể hiện định hướng giải đáp, hướng dẫn nghiệp vụ của TAND tối cao đối với các vấn đề phát sinh trong hoạt động xét xử.

Tuy nhiên, việc chưa có một mục giải đáp thật cụ thể cho tình huống TA nhận hồ sơ do CQĐT hoặc VKS đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với vụ án khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản không thể được hiểu là chưa có căn cứ pháp luật để thực hiện.

Trong trường hợp pháp luật đã quy định tại khoản 5 Điều 55, Điều 62 Luật Tư pháp NCTN và khoản 2 Điều 4 TTLT số 12/2025/TTLT, thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng trực tiếp các quy định này; văn bản giải đáp nghiệp vụ chỉ có ý nghĩa làm rõ thêm cách thức thực hiện, không phải là điều kiện phát sinh thẩm quyền của TA.

Hệ quả đáng chú ý trong việc giải quyết là sau khi TA trả hồ sơ, CQĐT phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường, sau đó chuyển đề nghị truy tố; VKS chuyển hồ sơ sang TA để xét xử thì Nguyễn Văn A đã đủ 18 tuổi. Khi đó, căn cứ khoản 5 Điều 35 Luật Tư pháp NCTN đặt ra giới hạn không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi.

Cách hiểu “thời điểm xem xét” trong trường hợp này sẽ dẫn đến hệ quả A không còn được xem xét áp dụng xử lý chuyển hướng, mặc dù tại thời điểm CQĐT xác định điều kiện và chuyển hồ sơ đề nghị TA xử lý chuyển hướng, A vẫn là NCTN và đã đáp ứng đầy đủ điều kiện theo luật.

Đây là vướng mắc thực tiễn cần được trao đổi, hướng dẫn thống nhất, bởi sự chậm trễ hoặc việc không thụ lý, không mở phiên họp của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến nguy cơ làm mất cơ hội được hưởng chính sách xử lý chuyển hướng của NCTN.

Theo quan điểm của người viết, cần phân biệt giữa trường hợp người phạm tội đã đủ 18 tuổi ngay tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền lần đầu xem xét căn cứ áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng với trường hợp người đó đủ 18 tuổi sau khi hồ sơ đã được CQĐT, VKS đề nghị TA xem xét đúng thời hạn, đúng thẩm quyền nhưng việc xem xét bị kéo dài do vướng mắc trong phối hợp hoặc do việc thực hiện thủ tục chưa kịp thời hoặc còn có cách hiểu khác nhau.

leftcenterrightdel
 Một phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại CQĐT hình sự khu vực 4- Quân khu 5.

Khoản 5 Điều 35 Luật Tư pháp NCTN nhằm bảo đảm biện pháp xử lý chuyển hướng được áp dụng đúng đối tượng là NCTN, nhưng không nên được hiểu theo hướng làm vô hiệu hóa quyền, lợi ích hợp pháp mà NCTN đã có tại thời điểm thủ tục được thực hiện hợp lệ.

Nếu mọi trường hợp đều lấy thời điểm xét xử hoặc thời điểm TA xem xét sau khi hồ sơ đã bị trả đi trả lại để loại trừ áp dụng chuyển hướng, thì mục đích xử lý kịp thời, hạn chế tác động tiêu cực của tố tụng hình sự và tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng quy định tại Điều 34 sẽ khó đạt được trong thực tiễn.

Ở góc độ kiểm sát hoạt động tư pháp, vướng mắc này đặt ra yêu cầu VKS phải chủ động kiểm sát chặt chẽ ngay từ thời điểm CQĐT xác định bị can là NCTN và có căn cứ xử lý chuyển hướng.

Khi vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản, Kiểm sát viên cần yêu cầu CQĐT lập hồ sơ đề nghị Tòa án theo đúng khoản 5 Điều 55 Luật Tư pháp NCTN và khoản 2 Điều 4 TTLT số 12/2025/TTLT; đồng thời hồ sơ cần thể hiện rõ thời điểm xác định độ tuổi, căn cứ áp dụng theo Điều 37, căn cứ loại trừ theo Điều 38, điều kiện theo Điều 39, ý kiến của NCTN và người đại diện, tài liệu về yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản, kế hoạch xử lý chuyển hướng hoặc tài liệu thể hiện đã yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch.

Việc lập hồ sơ đầy đủ, chặt chẽ sẽ hạn chế lý do trả hồ sơ do thiếu tài liệu và tạo cơ sở cho VKS thực hiện quyền kiến nghị nếu TA không thụ lý hoặc không mở phiên họp theo luật định.

Do đó, cần có hướng dẫn thống nhất về cách xác định “thời điểm xem xét” tại khoản 5 Điều 35 Luật Tư pháp NCTN. Theo hướng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, có thể nghiên cứu xác định thời điểm xem xét là thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng hoặc thời điểm CQĐT, VKS chuyển văn bản đề nghị TA xem xét, quyết định, nếu tại thời điểm đó người phạm tội chưa đủ 18 tuổi và đã đáp ứng đầy đủ điều kiện theo luật.

Cách hiểu này vừa phù hợp với mục đích của chế định xử lý chuyển hướng, vừa tránh tình trạng NCTN bị mất cơ hội do chậm trễ khách quan hoặc do cách áp dụng chưa thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng. Trường hợp Tòa án mở phiên họp sau khi người đó đủ 18 tuổi nhưng hồ sơ đã được đề nghị hợp lệ trước thời điểm đủ 18 tuổi, cần cho phép TA tiếp tục xem xét trên cơ sở tình trạng pháp lý đã được xác lập tại thời điểm thủ tục được thực hiện, trừ khi có căn cứ khác làm thay đổi điều kiện áp dụng.

Bên cạnh hướng dẫn của TAND tối cao, liên ngành trung ương cũng cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc giải thích rõ hơn Điều 4 TTLT số 12/2025/TTLT theo hướng tách bạch rõ thủ tục đề nghị TA áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản với thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Quy định hiện hành tại khoản 2 Điều 4 đã xác định đúng thẩm quyền của TA, nhưng trên thực tế có thể vẫn phát sinh cách hiểu lúng túng về trình tự gửi hồ sơ, biểu mẫu, thời hạn xử lý, quyền yêu cầu bổ sung tài liệu và phương thức giải quyết bồi thường hoặc tịch thu tài sản.

Vì vậy, cần có phụ lục hoặc biểu mẫu thống nhất về văn bản đề nghị TA xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong giai đoạn điều tra, truy tố; biên bản giao nhận hồ sơ; thông báo thụ lý; quyết định mở phiên họp; quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có nội dung giải quyết bồi thường thiệt hại.

Đối với ngành KSND, cần tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ về kiểm sát việc áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, trong đó coi việc phát hiện sớm điều kiện xử lý chuyển hướng là một nội dung kiểm sát bắt buộc đối với vụ án có bị can là người chưa thành niên. Kiểm sát viên cần chủ động đối chiếu Điều 12 Bộ luật Hình sự, các điều 34, 35, 37, 38, 39, 55, 58, 59, 62 Luật Tư pháp NCTN và các điều 3, 4 TTLT số 12/2025/TTLT để đánh giá đầy đủ điều kiện, trình tự, thẩm quyền; đồng thời lập luận rõ trong các văn bản trao đổi liên ngành rằng việc vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản không phải là căn cứ loại trừ xử lý chuyển hướng, mà chỉ làm thay đổi thẩm quyền quyết định từ CQĐT, VKS sang TA để bảo đảm việc giải quyết đồng thời vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản.

Có thể nói, chế định xử lý chuyển hướng là một điểm tiến bộ quan trọng của Luật Tư pháp NCTN, nhưng hiệu quả của chế định này phụ thuộc rất lớn vào nhận thức thống nhất và sự phối hợp kịp thời giữa CQĐT, VKS  và TA. Trong vụ án nêu trên, việc bị can Nguyễn Văn A đủ điều kiện xử lý chuyển hướng tại thời điểm điều tra nhưng sau đó không còn được xem xét do đã đủ 18 tuổi khi hồ sơ được đưa ra xét xử là hệ quả không mong muốn, phát sinh từ cách hiểu chưa thống nhất về thẩm quyền và trình tự của TA trong trường hợp vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Để bảo đảm mục tiêu bảo vệ, giáo dục, phục hồi NCTN, đồng thời bảo đảm tính nghiêm minh, thống nhất của pháp luật, rất cần có hướng dẫn kịp thời của TAND tối cao, VKSND tối cao và liên ngành trung ương; trong thời gian chờ hướng dẫn, các cơ quan tiến hành tố tụng cần ưu tiên áp dụng trực tiếp các quy định đã rõ của Luật Tư pháp NCTN và TTLT số 12/2025/TTLT, tránh để sự lúng túng về thủ tục làm phát sinh bất lợi cho NCTN phạm tội.

Phạm Văn Hùng - NH