leftcenterrightdel
 Quang cảnh phiên tòa xét xử một vụ án hình sự. (Ảnh minh họa)

Từ thực tế một vụ án

Do cần tiền chi tiêu A đã thuê đối tượng không rõ tên tuổi, địa chỉ làm giả 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, A đã đưa ra thông tin gian dối để B tin là A có đất bán thật nên từ ngày 11/5/2025 đến ngày 16/6/2025, B đã chuyển khoản cho A nhiều lần với tổng số tiền 200 triệu đồng để đặt cọc mua đất và đã bị A chiếm đoạt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2025/HS-ST ngày 8/12/2025 của TAND khu vực X tuyên A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tòa án đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo A mức án 7 năm 6 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 3 năm 6 tháng tù về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo A phải chấp hành chung cho cả hai tội danh là 11 năm tù.

Theo điểm a khoản 3 Điều 174, hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, là tội phạm rất nghiêm trọng. Trong khi đó, điểm b khoản 3 Điều 341 quy định tình tiết định khung tăng nặng là “sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”.

Ngoài ra, Điều 55 Bộ luật Hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo đó Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội danh và tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc luật định.

Cần hướng dẫn thống nhất để bảo đảm nguyên tắc công bằng

Từ các quy định trên cho thấy, pháp luật cho phép xử lý người phạm tội về nhiều tội danh khác nhau, đồng thời cũng cho phép sử dụng tính chất của tội phạm này làm căn cứ định khung cho tội phạm khác. Tuy nhiên, vấn đề cần bàn luận là ranh giới giữa việc “sử dụng tính chất tội phạm” và việc “tính trùng” các yếu tố định lượng bất lợi cho người phạm tội.

Theo quan điểm của người viết, giá trị 200 triệu đồng đã được sử dụng trực tiếp để định khung hình phạt theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu tiếp tục dựa vào chính yếu tố này để xác định hành vi lừa đảo là “tội phạm rất nghiêm trọng”, từ đó làm căn cứ áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì về bản chất đã xảy ra hiện tượng sử dụng lặp lại cùng một yếu tố định lượng nhằm làm tăng nặng trách nhiệm hình sự ở hai tội danh khác nhau.

Điều này tiềm ẩn nguy cơ vi phạm nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, khi cùng một yếu tố (giá trị tài sản) bị “tính hai lần” dưới hai hình thức: một lần trực tiếp trong Điều 174 Bộ luật Hình sự và một lần gián tiếp thông qua Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 .

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận quan điểm ngược lại cho rằng việc áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341 không phải là sử dụng lại giá trị tài sản, mà là dựa trên “tính chất pháp lý của tội phạm” (tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng), vốn được xác định theo khung hình phạt chứ không từ yếu tố định lượng. Theo cách hiểu này, đây là hai căn cứ pháp lý độc lập nên không vi phạm nguyên tắc xử lý.

Mặc dù vậy, lập luận này chưa thực sự thuyết phục trong bối cảnh cụ thể, bởi chính giá trị tài sản là yếu tố quyết định việc chuyển khung và làm cho hành vi lừa đảo trở thành tội phạm rất nghiêm trọng. Do đó, việc sử dụng kết quả phân loại này để tiếp tục định khung đối với hành vi quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự, xét về bản chất, vẫn gắn liền với yếu tố định lượng ban đầu. Vì vậy, trong trường hợp không có các tình tiết tăng nặng độc lập khác, việc xác định hành vi thuộc khoản 1 Điều 341 là phù hợp hơn, bảo đảm đúng tinh thần công bằng và cá thể hóa trách nhiệm hình sự.

Từ thực tiễn trên cho thấy, cần có sự hướng dẫn thống nhất trong áp dụng pháp luật nhằm tránh tình trạng đánh giá trùng lặp các yếu tố bất lợi cho người phạm tội. Việc định khung hình phạt đối với từng tội danh cần dựa trên các dấu hiệu đặc trưng riêng, bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý và đúng tinh thần của pháp luật hình sự.

Thân Thanh Huyền (VKSND tỉnh Bắc Ninh)