Quy chế này quy định về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
Đối tượng áp dụng gồm: VKSND, Viện kiểm sát quân sự các cấp; các đơn vị nghiệp vụ, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan nêu trên; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
Quy chế nêu rõ mục đích công tác đó là: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm trái pháp luật.
Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố phải kịp thời, khách quan, đúng pháp luật; mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, khắc phục và xử lý kịp thời, nghiêm minh.
    |
 |
| Cán bộ, công chức ngành Kiểm sát trao đổi công việc. (Ảnh minh hoạ) |
Bên cạnh đó, Quy chế cũng nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Cụ thể, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo quy định tại các điều 41, 42, 43 và quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự, các quy định khác của pháp luật có liên quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
Khi được phân công, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên có trách nhiệm quản lý hồ sơ vụ việc, hồ sơ vụ án, hồ sơ kiểm sát; báo cáo bằng văn bản (văn bản giấy, văn bản điện tử trên nền tảng số) nêu rõ quan điểm đề xuất về các vấn đề thuộc công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện. Nội dung báo cáo phải đầy đủ, khách quan, nêu rõ tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án và được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này.
Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện quản lý, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố; xem xét, quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án theo quy định của pháp luật, Quy chế này và các quy định khác của Ngành có liên quan.
Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải duyệt, ghi rõ ý kiến chỉ đạo vào văn bản đề xuất của Kiểm sát viên; trường hợp Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất qua nền tảng số thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện duyệt, ký số, chuyển lại Kiểm sát viên thực hiện. Nếu thấy cần thiết thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra chứng cứ trong hồ sơ hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, hoạt động điều tra trước khi cho ý kiến chỉ đạo.
Nếu có ý kiến khác nhau giữa các Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên thụ lý chính báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện chỉ đạo; nếu có ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát viên với lãnh đạo Viện thì thực hiện theo quy định tại Điều 83 của Luật Tổ chức VKSND. Trường hợp Kiểm sát viên thụ lý chính có ý kiến khác với lãnh đạo đơn vị thì phải thực hiện ý kiến của lãnh đạo đơn vị, nhưng có quyền báo cáo với Phó Viện trưởng phụ trách; nếu lãnh đạo đơn vị có ý kiến khác với Phó Viện trưởng thì phải thực hiện ý kiến của Phó Viện trưởng, nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo với Viện trưởng; kết luận của Viện trưởng, Phó Viện trưởng được lưu hồ sơ kiểm sát.
Trường hợp vụ việc, vụ án phức tạp, có khó khăn, vướng mắc, Viện trưởng có thể đưa ra tập thể lãnh đạo Viện hoặc Ủy ban kiểm sát thảo luận trước khi kết luận. Đối với vụ việc, vụ án Viện kiểm sát cấp dưới thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên thì việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị thực hiện theo quy định của Ngành.
Khi phát hiện có sai sót về nghiệp vụ hoặc vi phạm pháp luật thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải có biện pháp khắc phục ngay và tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm, xử lý trách nhiệm người vi phạm theo quy định của pháp luật.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.