Trong những năm gần đây, thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, VKSND khu vực 1 – Thanh Hóa nhận thấy, tình trạng bị đơn trong vụ án ly hôn rời khỏi nơi cư trú, không xác định được địa chỉ là hiện tượng khá phổ biến. Thực tế này gây khó khăn cho Tòa án trong việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng, làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết vụ án.
    |
 |
| Một buổi sinh hoạt chuyên đề của VKSND khu vực 1 – Thanh Hóa. |
Năm 2025, TAND khu vực 1 – Thanh Hóa đã thụ lý 3 vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn không có mặt tại nơi cư trú tại thời điểm thụ lý. Điển hình là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn là chị Lê Thị H., cư trú tại xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa và bị đơn là anh Lê Thế H2., có nơi cư trú trước khi ly thân tại phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, khi Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, người thân cùng hộ khẩu với bị đơn từ chối cung cấp thông tin về nơi cư trú hiện tại của bị đơn. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương cho thấy, bị đơn vẫn thường xuyên về nhà, không đăng ký tạm trú tại địa chỉ khác. Việc bị đơn và gia đình đã được tống đạt hợp lệ nhưng không hợp tác, cố tình trốn tránh đã gây khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Trước tình huống này, thực tiễn cho thấy các Tòa án áp dụng pháp luật chưa thống nhất: có Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án với nhận định bị đơn cố tình giấu địa chỉ; trong khi đó, có Tòa án lại đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án và hướng dẫn nguyên đơn thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Sự không thống nhất này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án mà còn tác động trực tiếp đến quyền yêu cầu ly hôn – một quyền nhân thân cơ bản của công dân. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ căn cứ pháp lý và yêu cầu chứng minh hành vi “cố tình giấu địa chỉ” là cần thiết, đặc biệt dưới góc độ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn khởi kiện phải ghi rõ họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện và kèm theo tài liệu chứng minh. Quy định này nhằm xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bảo đảm điều kiện thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự không yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp địa chỉ cư trú chính xác tuyệt đối của bị đơn tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, mà chỉ yêu cầu cung cấp địa chỉ hợp pháp, có căn cứ xác định, gắn với quan hệ pháp luật tranh chấp. Vì vậy, trong vụ án ly hôn, việc nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn theo Giấy chứng nhận kết hôn hoặc theo nơi cư trú cuối cùng trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: trường hợp bị đơn thay đổi nơi cư trú liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự mà không thông báo theo quy định của pháp luật thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Quy định này được áp dụng đối với tất cả các vụ việc dân sự, bao gồm cả các vụ án hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn trường hợp Tòa án đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án, yêu cầu nguyên đơn thực hiện thủ tục tuyên bố bị đơn mất tích trước khi giải quyết yêu cầu ly hôn.
Nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất chủ yếu xuất phát từ việc chưa phân biệt rõ nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và hành vi của bị đơn. Đối với nguyên đơn, pháp luật chỉ yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn mà mình biết một cách hợp pháp. Trong vụ án ly hôn, địa chỉ này thường được xác định theo Giấy chứng nhận kết hôn hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn trong thời kỳ hôn nhân, trước khi vợ chồng ly thân. Trường hợp nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các thông tin nêu trên thì được xác định là đã thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng, kể cả khi bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ đó vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án.
Đối với bị đơn, khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân khi thay đổi nơi cư trú phải thông báo theo quy định của pháp luật. Trong quan hệ hôn nhân, nghĩa vụ này có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, nếu bị đơn rời khỏi nơi cư trú đã đăng ký, không khai báo tạm trú, không thông báo cho người còn lại thì có cơ sở xác định hành vi này là cố tình giấu địa chỉ, không phải do nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ tại thời điểm khởi kiện.
Từ những phân tích trên, để bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất và giải quyết kịp thời quyền yêu cầu ly hôn của công dân, trong quá trình kiểm sát, khi phát hiện vụ án hôn nhân và gia đình có tình tiết không xác định được địa chỉ của bị đơn, Kiểm sát viên cần yêu cầu Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ việc nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ của bị đơn có căn cứ hay không. Cụ thể, cần xác minh tại chính quyền địa phương, cơ quan công an về nơi cư trú cuối cùng của bị đơn; làm rõ việc bị đơn có thực hiện nghĩa vụ khai báo cư trú theo quy định hay không. Trên cơ sở đó, xác định có đủ căn cứ để kết luận bị đơn “cố tình giấu địa chỉ” hay không, từ đó áp dụng Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung, không yêu cầu nguyên đơn thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích.
Trường hợp Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Kiểm sát viên cần kịp thời kiểm sát căn cứ của quyết định thông qua việc yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan. Nếu phát hiện vi phạm, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị, yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, việc áp dụng quy định về “bị đơn cố tình giấu địa chỉ” trong giải quyết vụ án ly hôn là phù hợp với tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2024. Tuy nhiên, để bảo đảm áp dụng đúng và thống nhất, cần đặt ra yêu cầu chứng minh chặt chẽ, khách quan, tránh việc chuyển nghĩa vụ tố tụng sang cho nguyên đơn hoặc làm hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của công dân. Từ thực tiễn công tác kiểm sát, tác giả kiến nghị TAND tối cao và VKSND tối cao sớm ban hành hướng dẫn cụ thể đối với các vụ án hôn nhân và gia đình có tình tiết không xác định được địa chỉ bị đơn, nhằm bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật.