Đó cũng là lý do, cùng với việc ban hành bộ tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới mới gồm 10 nhóm tiêu chí, 47 chỉ tiêu cụ thể, tỉnh Thanh Hóa đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu không “chạy theo thành tích”, không bằng lòng với những kết quả mang tính hình thức, mà phải duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí theo chiều sâu, tạo ra giá trị hưởng thụ thực tế cho người dân.
    |
 |
| NTM ở Thanh Hoá hướng tới nâng cao chất lượng các tiêu chí theo chiều sâu, tạo ra giá trị hưởng thụ thực tế cho người dân. |
Khi nông thôn mới bước sang một chuẩn mực mới
Giai đoạn 2026 - 2030 đặt Chương trình xây dựng nông thôn mới trước một yêu cầu khác về chất. Nếu ở những giai đoạn trước, một địa phương có thể tập trung nhiều hơn vào hoàn thiện hệ thống giao thông, trường học, nhà văn hóa, thủy lợi, điện, nước và các công trình thiết yếu, thì nay những tiêu chí ấy vẫn quan trọng nhưng không còn đủ để định nghĩa một vùng nông thôn phát triển.
Bộ tiêu chí mới của Thanh Hóa nâng caoyêu cầu về thu nhập, môi trường, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn, đồng thời đặt nông thôn trong mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu lại nông nghiệp, đôthị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Theo kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030, Thanh Hóa hướng tới xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, mang đậm bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và khả năng thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu; đồng thời phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.
Đặc biệt, với khu vực miền núi, mục tiêu không chỉ nằm ở việc hoàn thành các tiêu chí mà còn phải giải quyết bài toán lớn hơn: làm thế nào để người dân có sinh kế bền vững ngay trên quê hương mình.
Theo mục tiêu đề ra, tỷ lệ xã miền núi đạt chuẩnnông thôn mới phấn đấu trên 80%; tỷ lệ thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới trên 12%.
    |
 |
| Diện mạo ở vùng biên giới Na Mèo. |
Tại Na Mèo, nằm ở khu vực cửa ngõ biên giới, địa hình phức tạp, nhiều núi đá vôi, điều kiện sản xuất và sinh kế còn không ít khó khăn. Với hơn 4.000 người dân, phần lớn sống dựa vào nông nghiệp, điểm nghẽn không chỉ nằm ở đất đai, hạ tầng hay nguồn vốn. Một điểm nghẽn quan trọng hơn là năng lực sản xuất và khả năng tự tổ chức sinh kế của người dân.
Chỉ khoảng 12% người dân được đào tạo nghề. Trong điều kiện đó, nếu chỉ đưa tiền, vật tư hoặc một chương trình hỗ trợxuống cơ sở, hiệu quả có thể xuất hiệntrước mắt nhưng khó tạo ra sức bật lâu dài. Bởi vậy, cách làm của Na Mèo đang hướng đến một câu hỏi khác: làm thế nào để người dân tự tin rằng họ có thể làm được?
Bí thư Đảng ủy xã Hà Thị Tuyến cho rằng, chính quyền không thể chỉ đóng vai trò “xin nguồn lực” và “phân phát hỗ trợ”, mà phải trở thành lựclượng kết nối, định hướng và trực tiếp làm mẫu. Nhiệm vụ của chính quyền xã không phải lúc nào cũng là xin thêm tiền từ cấp trên. Việc mình cần làm trước tiên là đánh thức ý chí tự lực của người dân”. Từ tư duy đó, Na Mèo hình thành cách tiếp cận có thể khái quát thành “ba sức mạnh”: kỹ thuật, hạ tầng và văn hóa.
    |
 |
| Na Mèo lựa chọn bản Ché Lầu để tập trung nguồn lực làm mẫu. |
Thay vì triển khai dàn trải, Na Mèo lựa chọn bản Ché Lầu để tập trung nguồn lực làm mẫu. Cách làm này có một ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện miền núi. Người dân có thể chưa bị thuyết phục hoàn toàn bởi những khái niệm như “tái cơ cấu sản xuất”, “kinh tế tuần hoàn” hay “phát triển sinh kế bền vững”. Nhưng họ có thể nhìn thấy một chuồng trại hiệu quả, một đàn gia súc phát triển tốt, một diện tích sản xuất cho thu nhập cao hơn và một gia đình thoát nghèo bằng chính sức lao động của mình. Một mô hình thành công có sức thuyết phục trực tiếp hơn nhiều cuộc vận động nếu người dân nhìn thấy lợi ích thật.
Câu chuyện của bà Mùa Thị Sênh, người phụ nữ Mông ở bản Ché Lầu, là một ví dụ. Ban đầu, bà ngần ngại nhận con giống vì lo thất bại. Thay vì chỉ giao con giống rồi chờ kết quả, cán bộ kinh tế của xã trực tiếp xuống gia đình, hướng dẫn cách xây dựng chuồng trại, chăm sóc, phòng bệnh, tiêm thuốc và nhân giống.
Từ một hộ còn dè dặt với mô hình mới, gia đình bà Sênh đã phát triển đàn gà lên hàng trăm con và bắt đầu bán gà giống cho các hộ khác trong bản. Giá trị lớn nhất của câu chuyện không chỉ nằm ở số lượng đàn gà. Quan trọng hơn, một hộ dân đã trở thànhmột “điểm trình diễn” sống động về khả năng thay đổi sinh kế. Khi hàng xóm nhìn thấy hiệu quả và làm theo, chính quyền không còn phải “thuyết phục bằng lời”. Hiệu quả kinh tế tự nó trở thành một phương thức vận động.
Những kết quả của Na Mèo trong năm 2025 cho thấy nếu biết phát huy nội lực, ngay cả một địa bàn miền núi còn nhiều khó khăn vẫn có thể tạo ra những chuyển biến đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 36,2 triệu đồng, vượt 108,3% chỉ tiêu giao. Diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật ước đạt 150 ha, bằng 500% chỉ tiêu giao.
Tổng đàn gia súc, gia cầm khoảng 24.300 con, vượt chỉ tiêu được giao. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, xã quản lý hơn 5.000 ha rừng, đồng thời tiếp tục phát triển các loại cây có thế mạnh như vầu, nứa.
Nhưng chính quyền Na Mèo cũng nhìn nhận rõ rằng những con số ấy chưa phải đích đến. Chủ tịch UBND xã Na Mèo Lương Văn Thủy nhấn mạnh: thành công của nông thôn mới không nằm ở số lượng bản đạt chuẩn, mà ở chất lượng cuộc sống của người dân. Na Mèo vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, từ chênh lệch thu nhập đến việc phát triển sản phẩm OCOP. Trong thời gian tới, xã xác định ba hướng trọng tâm: thu hút đầu tư và phát triển sản xuất; tăng nguồn thu tài chính; bảo vệ tài nguyên.
Na Mèo chỉ là một lát cắt rất nhỏ trong bức tranh tổng thể của các xã miền núi của Thanh Hoá trên hành trình xây dựng NTM. Khắp nơi trên mảnh đất xứ Thanh đều đang nỗ lực phấn đấu để hướng tới nâng cao chất lượng đời sống cho người dân một cách toàn diện hơn.
Hợp nhất đơn vị hành chính: thách thức nhưng cũng là cơ hội tái cấu trúc
Giai đoạn mới của xây dựng NTM diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt: sắp xếp, hợp nhất các đơn vị hành chính cấp xã. Đây là một thay đổi lớn đối với tổ chức bộ máy và quản trị địa phương.
Tại Thanh Hoá, thực tế cho thấy, sau khi hợp nhất, nhiều xã mới hình thành có xuất phát điểm không đồng đều, dẫn đến việc rà soát, điều chỉnh và thực hiện các tiêu chí NTM gặp khó khăn. Một số địa phương sau khi hợp nhất từ xã đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn, phải xây dựng lại lộ trình phù hợp. Nhiều công trình hạ tầng xuống cấp, hệ thống chính trị cơ sở cần thời gian củng cố, nguồn lực đầu tư bị giãn ra, nguy cơ làm gián đoạn tiến độ chương trình xây dựng nông thôn mới là điều hoàn toàn có thể xảy ra nếu không có giải pháp quyết liệt, đồng bộ. Tuy nhiên, với tinh thần chủ động, quyết tâm chính trị cao, tỉnh Thanh Hóa đã xác định rõ, việc hợp nhất không làm chậm tiến độ, không làm giảm chất lượng nông thôn mới.
Ở chiều ngược lại, hợp nhất cũng mở ra khả năng tổ chức lại không gian phát triển. Một đơn vị hành chính có quy mô lớn hơn có thể tạo ra không gian sản xuất rộng hơn; khả năng huy động và phân bổ nguồn lực có thể được tổ chức lại; quy hoạch kinh tế - xã hội có điều kiện tiếp cận theo quy mô lớn hơn thay vì bị chia cắt bởi ranh giới hành chính cũ.
Ông Hà Huy Biến, Phó Bí thư Đảng ủy xã Thiên Phủ, cho rằng việc hợp nhất các xã, thôn, bản có quy mô dân số nhỏ tạo điều kiện hình thành những đơn vị có quy mô lớn hơn, qua đó thuận lợi hơn trong huy động vàsử dụng nguồn lực xây dựng nông thôn mới.
    |
 |
| Ông Hà Huy Biến, Phó Bí thư Đảng ủy xã Thiên Phủ. |
Theo ông Biến, nếu được tổ chức tốt, đây không chỉ là câu chuyện tinh gọn bộ máy. Đó còn có thể là cơ hội để tái cấu trúc không gian phát triển nông thôn. Từ tư duy này, việc hợp nhất không nên được nhìn như một yếu tố làm “đứt gãy” chương trình nông thôn mới, mà phải trở thành một dịp để rà soát lại những gì đã làm, những gì còn thiếu và những gì cần thay đổi.
Một nguyên tắc quan trọng được Thanh Hóa đặt ra là việc sắp xếp đơn vị hành chính không được làm gián đoạn chương trình và chính sách đối với người dân. Việc chấm dứt hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia và Văn phòng Điều phối NTM cấp huyện đồng thời đặt ra yêu cầu bảo đảm hồ sơ, tài liệu được bàn giao, tiếp nối đầy đủ.
    |
 |
| Cây cà phê lần đầu tiên mọc trên đất luồng Thiên Phủ. |
Đối với các xã thực hiện sắp xếp, những chế độ, chính sách liên quan đến chương trình nông thôn mới tiếp tục được thực hiện theo quy định cho đến khi có văn bản thay thế, sửa đổi hoặc hết thời hạn thực hiện chương trình.
Ông Vũ Thế Thuyết, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Vĩnh Lộc “cũ” cho rằng: Một hộ dân đã được hưởng chính sách không thể vì thay đổi tên xã mà mất quyền lợi. Một công trình đã đầu tư không thể vì thay đổi địa giới mà bị bỏ quên. Một tiêu chí đã đạt không thể mặc nhiên trở thành “việc của nhiệm kỳ trước”.
Nhìn từ Thanh Hóa, có thể thấy xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 đang chuyển từ một chương trình thiên về hoàn thiện tiêu chí sang một phương thức tổ chức phát triển.Và danh hiệu đạt chuẩn chỉ có ý nghĩa khi phía sau nó là một đời sống tốt hơn, một nền kinh tế nông thôn có sức chống chịu tốt hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn…
Quyết định số 1623/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa về kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra một không gian phát triển rộng hơn cho nông thôn Thanh Hóa: hiện đại nhưng không đánh mất bản sắc; tăng trưởng nhưng phải xanh và tuần hoàn; giảm nghèo nhưng phải bao trùm và bền vững; phát triển kinh tế nhưng phải gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường, quốc phòng, an ninh và ổn định xã hội.
Đó là một bài toán lớn, đặc biệt đối với khu vực miền núi, biên giới – nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hạ tầng còn hạn chế và khoảng cách phát triển vẫn hiện hữu. Nhưng cũng chính tại những địa bàn khó khăn ấy, hiệu quả của một phương thức phát triển mới có thể được nhìn thấy rõ nhất: Khi một người dân từ chỗ ngại nhận con giống trở thành người cung cấp giống cho cộng đồng; khi một bản được chọn làm mô hình để những bản khác học theo; khi đất đai manh mún được tích tụ thành vùng sản xuất; tài nguyên rừng được bảo vệ đồng thời tạo sinh kế; chính quyền chuyển từ “phân phát” sang “kiến tạo” và người dân chuyển từ “chờ hỗ trợ” sang “chủ động làm giàu”…