Nghị quyết nêu rõ, sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của phát triển vùng được nâng cao; liên kết vùng được tăng cường; tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng và vùng từng bước phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra; chưa khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là một điểm nghẽn; hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành còn chậm phát triển; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy được vai trò hạt nhân, lan toả; liên kết vùng còn yếu và chưa hiệu quả.

Để phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, thúc đẩy liên kết và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương và vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc, nghiêm túc, tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:

Phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững

Nghị quyết xác định 3 quan điểm chỉ đạo. Cụ thể, phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. Đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực; phát huy nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao.

Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững. Phát huy liên kết, bổ trợ và lan toả giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.

Xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, hài hoà lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.

leftcenterrightdel
 Vịnh Hạ Long. (Ảnh minh hoạ: TTXVN)

Tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia

Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng; bảo đảm yêu cầu về tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; duy trì môi trường hoà bình, ổn định.

Nghị quyết xác định một số mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 đối với các vùng và tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, đến năm 2045, các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao, kết nối thông suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng; xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; quản trị xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, tự cường, vững mạnh; người dân được hưởng thụ các dịch vụ xã hội chất lượng cao, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Nghị quyết xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, cụ thể gồm: Tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng; đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành và phát triển các động lực kinh tế mới của vùng; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, liên vùng; phát triển hệ thống đô thị hiện đại gắn với các cực tăng trưởng của vùng.

Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển văn hoá, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Hoàn thiện mô hình, tổ chức bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng và đặc thù các khu vực nông thôn, đô thị, miền núi, đặc khu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm; đảm bảo bộ máy hành chính sát dân hơn, hoạt động nhanh gọn và đúng nhu cầu thực tế của từng địa bàn; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ các cấp đủ đức, đủ sức, đủ tài, trong đó chú trọng tiêu chuẩn hoá, trẻ hoá, chuyên môn hoá. Tổ chức hiệu quả các chương trình kiểm tra, giám sát việc thực thi nghị quyết và chính sách; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, thúc đẩy việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương để nâng cao chất lượng công tác quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị. Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Nghị quyết số 27-NQ/TW thay thế các Nghị quyết số 11-NQ/TW, 13-NQ/TW, 23-NQ/TW, 24-NQ/TW, 26-NQ/TW, 30-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội và có hiệu lực kể từ ngày ký.

Xem toàn văn Nghị quyết tại đây: nq-27.pdf

P.V