Theo nội dung vụ án và tại đơn khởi kiện, phía nguyên đơn là anh N.T.Đ yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn là các ông, bà có cùng địa chỉ tại thôn Hiệu Lực, xã Suối Hai, Hà Nội gồm: Bà Nguyễn Thị Trang (SN: 1943), anh Nguyễn Văn Tuấn (SN: 1970), anh Nguyễn Văn Quyền (SN: 1975), anh Nguyễn Văn Bân (SN: 1978), anh Nguyễn Văn Chín (SN: 1986) phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất, trả lại quyền sử dụng đất thửa đất số 08, tờ bản đồ trích đo, diện tích 17.189m2, tại Đồi Mả Bổng, thôn Hiệu Lực, xã Tản Lĩnh, Hà Nội cho nguyên đơn.
    |
 |
| Các thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án, thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn. |
Sau khi TAND huyện Ba Vì, TP Hà Nội có Thông báo về việc thụ thụ lý vụ án dân sự số 28/2025/TB-TA ngày 24/2/2025, phía bị đơn là bà Nguyễn Thị Trang và các bị đơn khác trong vụ án (đại diện là bà Nguyễn Thị Trang) có đơn yêu cầu phản tố và đã được TAND khu vực 9, TP Hà Nội thụ lý yêu cầu phản tố tại Thông báo số 28A/TB-TLPT ngày 8/7/2025.
Theo đó, bị đơn yêu cầu Toà án giải quyết các nội dung gồm: Tuyên vô hiệu đơn xin chuyển giao đất Pam ngày 8/9/2003 có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì; tuyên vô hiện hợp đồng cho thuê đất số 14/2008/HD-TD ngày 14/5/2008 bên cho thuê là ông Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường Ba Vì, bên thuê đất là ông N.T.Đ, diện tích đất thuê là 17.189m2, trong đó đất nông nghiệp 300m2, đất trồng cây lâu năm là 16.889m2; địa điểm khu đồi Mả Bồng, thôn Hiệu Lực, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Đồng thời, tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AB835371, vào sổ cấp GCNQSDĐ số 119 H/QSDD-TD-TT do UBND huyện Ba Vì cấp ngày 15/5/2008 cấp cho người sử dụng đất ông N.T.Đ.
Bản thân bà Trang là vợ của ông Nguyễn Văn Thạch (ông Thạch là chủ hộ - đã chết) cùng 8 người con có công sức, quyền lợi liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng chưa nhận tiền, chưa ký bán đất và tài sản cây trồng trên đất diện tích 1,8ha cho nguyên đơn hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị Trang và các con của bà Trang phải dỡ các công trình xây dựng trên đất, di chuyển cây trồng trên đất diện tích 1,8ha để bàn giao trả lại đất cho nguyên đơn phía bị đơn không đồng ý.
Cũng theo trình bày của phía bị đơn thì vào năm 2003 ông Thạch chủ hộ gia đình có ký chuyển giao hợp tác đầu tư với ông N.T.Đ cùng khai thác trên diện tích 1,8ha của hộ gia đình và có việc ký bàn giao Sổ lâm bạ cho ông Đ chứ không có việc mua bán, nhận tiền đối với diện tích đất này. Trong quá trình giải quyết, nguyên đơn lại cung cấp cho Toà án giấy biên nhận chuyển nhượng đất và giấy biên nhận tiền chuyển nhượng diện tích đất khai hoang khác diện tích 3.000m2 với giá 190 triệu đồng ngày 8/9/2003, trong khi nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện liên quan đến diện tích chuyển nhượng 3.000m2 này là một điều hết sức vô lý, gây nhầm lẫn giữa các tài liệu hồ sơ vụ án.
    |
 |
| Hiện trạng một phần khu đất hiện nay. |
Tại phiên toà ngày 25/5/2026, người đại diện theo uỷ quyền của phía bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Đình Anh Dũng đã phát biểu cho rằng, có đủ căn cứ để tạm ngưng phiên Tòa theo Điều 259 bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo anh Nguyễn Đình Anh Dũng, trong vụ án có nhiều tài liệu, chữ ký của ông Nguyễn Văn Thạch (đã chết) có dấu hiệu không trùng là một người ký. Hiện nay, ông Thạch (đã chết) việc ký kết mua bán, chuyển giao tài sản Hộ gia đình vợ con ông Thạch không được biết, không được ký nên hiện nay chưa thể làm rõ tại phiên Tòa, cần phải được giám định. Cùng với đó, qua hồ sơ nhận thấy chữ ký của anh Nguyễn Văn Liên trong Hồ sơ ký chuyển giao đất vườn cây và chữ ký tại Biên bản làm việc UBND xã Tản Lĩnh và chữ ký tại Bản khai gửi Tòa án cũng không giống nhau, trong khi anh Liên không có mặt tại Tòa án, nên không đủ căn cứ xác minh, làm rõ.
Mặt khác, anh Dũng cũng đề nghị Tòa án và các cơ quan chức năng cần xác minh làm rõ về việc cá nhân cho thuê đất không đúng thẩm quyền, việc chưa thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn Thạch nhưng đã ban hành quyết định giao đất và cấp GCNQSD đất cho người khác. Đồng thời, đề nghị Tòa án xác minh, nếu có đủ căn cứ vi phạm pháp pháp luật thì chuyển hồ sơ vụ án sang CQĐT để xác minh, điều tra làm rõ các dấu hiệu vi phạm pháp luật đất đai và một số vi phạm khác trong vụ án.
Từ những phân tích, lập luận và tài liệu trong vụ án có được, anh Nguyễn Đình Anh Dũng đề nghị Hội đồng xét xử cho tạm ngưng phiên tòa để giám định và xác minh, đảm bảo đủ căn cứ vững chắc nhằm giải quyết dứt điểm vụ án tranh chấp đất đai, đảm bảo khách quan, công tâm, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp công dân.
Tuy nhiên, TAND Khu vực 9 vẫn tiếp tục xét xử vụ án (ngày thứ hai) vào sáng ngày 26/5. Sau khi nghe các bên tranh luận, ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, hiện Toà đang nghị án và sẽ tuyên án vào ngày 29/5/2026 tới đây.
Báo Bảo vệ pháp luật sẽ tiếp tục thông tin về vụ án khi có diễn biến mới.
|
Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về “Tạm ngừng phiên tòa”, cụ thể: 1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt; c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; d) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại; đ) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải; e) Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.
|