leftcenterrightdel
 Đồng chí Lê Văn Đông, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội trường Quốc hội.

Sáng 27/10/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội họp toàn thể tại Hội trường, thảo luận về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Tham gia phát biểu, đồng chí Lê Văn Đông, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh tập trung góp ý đối với chế định tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt tại khoản 1, khoản 2 Điều 57 dự thảo Bộ luật Hình sự.

Cần xác lập một căn cứ khoan hồng riêng

Phát biểu tại Hội trường, ĐBQH Lê Văn Đông đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu các ý kiến góp ý tại kỳ họp trước để tiếp tục hoàn thiện dự án luật. ĐBQH bày tỏ sự đồng tình với chính sách khoan hồng đối với người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 57, đồng thời cho rằng việc thiết kế chế định này cần bảo đảm thống nhất, đồng bộ với thủ tục tố tụng tương ứng tại Chương XXXI dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi).

Theo ĐBQH, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện hướng tiếp cận nhân văn của tư pháp hình sự hiện đại. Phân tích bản chất của chính sách, ĐBQH Lê Văn Đông cho rằng tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị là một căn cứ khoan hồng có bản chất pháp lý và mục tiêu chính sách riêng, không nên đồng nhất với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Theo đó, tình tiết giảm nhẹ phản ánh tính chất hành vi, nhân thân và thái độ của người phạm tội, làm căn cứ để Tòa án cá thể hóa hình phạt. Cơ chế này không đòi hỏi người phạm tội phải chấp nhận hình phạt và cũng không gắn với việc đơn giản hóa thủ tục tố tụng.

Trong khi đó, tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là sự thể hiện tổng hợp của việc thừa nhận trách nhiệm, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và chấp nhận hình phạt được đề nghị theo các điều kiện luật định.

Cơ chế này thể hiện thái độ tự nguyện chấp nhận hậu quả pháp lý của người phạm tội, đồng thời góp phần rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, tiết kiệm nguồn lực tố tụng và tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho những vụ án phức tạp hơn.

Từ đó, ĐBQH cho rằng quy định tại khoản 1 Điều 57 cần được thiết kế như một trường hợp khoan hồng riêng, gắn với thủ tục tố tụng đặc biệt, qua đó mở rộng điều kiện khoan hồng và tạo động lực để người phạm tội chủ động hợp tác, tự nguyện chấp nhận trách nhiệm hình sự.

ĐBQH Lê Văn Đông đồng thời đề nghị chính sách này cần được phân hóa theo những mức độ khác nhau. Người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, đồng thời có nỗ lực bồi thường, khắc phục hậu quả thì có thể được xem xét mức khoan hồng cao hơn, với những điều kiện và giới hạn cụ thể tại khoản 1, khoản 2 Điều 57.

Cách thiết kế này vừa tạo động lực để người phạm tội khắc phục hậu quả, bảo vệ quyền lợi của bị hại, vừa bảo đảm sự kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân văn của pháp luật hình sự.

ĐBQH cũng đề nghị, sau khi Bộ luật được thông qua, cần có văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết để bảo đảm việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Khoan hồng nhưng phải bảo đảm đầy đủ nguyên tắc tố tụng

Một giá trị khác của chính sách được ĐBQH Lê Văn Đông nhấn mạnh là khả năng thúc đẩy công lý thực chất, khôi phục những lợi ích bị xâm hại và hàn gắn các quan hệ xã hội bị tội phạm tác động.

Theo đại biểu, hiệu quả của hoạt động tư pháp không chỉ được đo bằng việc vụ án được giải quyết nhanh, đúng pháp luật, mà còn ở việc thiệt hại được khắc phục, bị hại được bù đắp, quan hệ xã hội được hàn gắn, niềm tin vào công lý được củng cố và người phạm tội có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng.

Sự hợp tác thực chất của người phạm tội cũng giúp thu hẹp phạm vi những vấn đề cần giải quyết, hạn chế các hoạt động tố tụng không cần thiết. Đây là một trong những cơ sở để xác lập căn cứ khoan hồng tại cả khoản 1 và khoản 2 Điều 57, bảo đảm sự đồng bộ giữa chính sách hình sự với thủ tục tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, ĐBQH Lê Văn Đông nhấn mạnh, việc áp dụng chế định này phải đặt trên nền tảng bảo đảm tính tự nguyện và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự. Việc nhận tội phải hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với chứng cứ khách quan. Lời nhận tội không thể thay thế trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng, cũng không phải là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

Theo thiết kế của dự thảo, Viện kiểm sát đề nghị hình phạt theo quy định pháp luật; Tòa án có trách nhiệm kiểm tra tính tự nguyện, đánh giá chứng cứ và độc lập quyết định hình phạt.

Người bị buộc tội phải được giải thích đầy đủ về việc đồng ý hoặc không đồng ý áp dụng thủ tục tương ứng, cũng như quyền kháng cáo. Quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội và yêu cầu xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phải được bảo đảm đầy đủ.

Từ những phân tích trên, ĐBQH Lê Văn Đông cho rằng việc giảm hình phạt trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị là một chính sách khoan hồng có giá trị pháp lý và mục tiêu chính sách riêng, cần được quy định đồng bộ với cơ chế tố tụng tương ứng. Chính sách này không chỉ tạo động lực để người phạm tội tự giác chịu trách nhiệm mà còn thúc đẩy bồi thường, khắc phục hậu quả, bảo vệ bị hại và hàn gắn những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm.

Đó là những giá trị thực chất mà chính sách hình sự cần hướng tới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp, đồng thời củng cố tính nghiêm minh và nhân văn của pháp luật.

Khép lại phần phát biểu, ĐBQH Lê Văn Đông nhấn mạnh một vấn đề có ý nghĩa xuyên suốt đối với việc thiết kế chế định này: không thể xây dựng một thủ tục tố tụng đặc biệt yêu cầu người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và mang lại lợi ích cho hoạt động tư pháp, nhưng lại thiếu một chính sách khoan hồng riêng đủ sức khuyến khích họ lựa chọn thủ tục đó.

Những góp ý của ĐBQH Lê Văn Đông xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ giữa chính sách hình sự và thủ tục tố tụng hình sự, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện chế định theo hướng vừa khả thi trong thực tiễn, vừa bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự.

Văn phòng VKSND TP Hồ Chí Minh