    |
 |
| Đồng chí Lê Văn Đông, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh tham dự ngày làm việc thứ hai, Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất Quốc hội Khóa XVI. |
Ngày 4/8/2026, trong ngày làm việc thứ hai của Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, đồng chí Lê Văn Đông, Đại biểu Quốc hội, Thành ủy viên, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh tham gia thảo luận tại Tổ, đóng góp ý kiến đối với dự án luật: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) và dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Các ý kiến tập trung vào những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, trong đó có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với chức năng, nhiệm vụ đặc thù của từng cơ quan; trách nhiệm người đứng đầu; bảo đảm quyền lợi của người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ và yêu cầu chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước.
Nâng tầm hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với nhiệm vụ đặc thù, công tác chuyên môn của các cơ quan liên quan
Thảo luận về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), đồng chí Lê Văn Đông đánh giá, đây là lần sửa đổi toàn diện đầu tiên sau hơn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
Dự thảo Luật gồm 5 chương, 42 điều, trong đó sửa đổi 40 điều, giữ nguyên 1 điều và bổ sung 1 điều mới. Việc sửa đổi được đặt trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI, xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL).
Theo đồng chí Lê Văn Đông, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, giải trình nhiều ý kiến góp ý để hoàn thiện dự thảo, tạo cơ sở thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước.
Từ góc độ thực tiễn, đồng chí Lê Văn Đông cho rằng, dự thảo đã thể chế hóa nhiều quan điểm, chủ trương tại Nghị quyết số 66-NQ/TW. Tuy nhiên, một số quy định vẫn dẫn chiếu và sử dụng các cụm từ mang tính định tính như “bố trí nguồn lực tương xứng”, “ưu tiên đầu tư”, “có chính sách phát triển”, “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật”...
Do đó, đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ thuật lập pháp, chuyển hóa những nội dung này thành các quy phạm pháp luật cụ thể, rõ ràng để thuận lợi khi áp dụng trong thực tế.
Một vấn đề khác được đồng chí Lê Văn Đông đề cập là hình thức và trách nhiệm tuyên truyền, PBGDPL của các cơ quan, tổ chức.
Theo đó, sau khi quy định chi tiết tại Điều 23 và Điều 24, dự thảo tiếp tục dẫn chiếu các nội dung này khi quy định trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tại Điều 25; TAND, VKSND, Kiểm toán nhà nước tại Điều 26; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Bên cạnh đó, dự thảo liệt kê chi tiết một số hoạt động chuyên môn của Tòa án, Viện kiểm sát như xét xử, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhưng lại chưa bao quát hết nhiệm vụ thực tế của các cơ quan.
Từ thực tiễn của ngành Kiểm sát, đồng chí Lê Văn Đông dẫn chứng, ngoài chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND hiện đang triển khai Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm VKSND khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
Thông qua quá trình xác minh, thu thập chứng cứ và khởi kiện, VKSND đồng thời thực hiện việc tuyên truyền, giải thích pháp luật cho người yếu thế cũng như các cơ quan, tổ chức liên quan. Những vụ việc cụ thể qua đó có thể tạo chuyển biến về nhận thức pháp luật.
Đây là một kênh PBGDPL thiết thực, gắn với hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù của ngành Kiểm sát nhân dân nhưng chưa được dự thảo Luật thể hiện, ghi nhận.
Từ đó, đồng chí Lê Văn Đông đề xuất cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc quy định trách nhiệm và hình thức PBGDPL của các cơ quan, tổ chức theo hướng khái quát như cách tiếp cận của Luật PBGDPL năm 2012. Cách quy định này sẽ bảo đảm bao quát, tránh bỏ sót các hoạt động PBGDPL gắn với chức năng, nhiệm vụ đặc thù của từng cơ quan, tổ chức.
Đồng chí Lê Văn Đông cũng cho rằng, Luật PBGDPL hiện hành giao trách nhiệm cho nhiều cơ quan nhưng thiếu chế tài cụ thể, dẫn đến có trường hợp đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, việc phối hợp còn mang tính hình thức. Trong khi đó, dự thảo sửa đổi vẫn chưa quy định rõ trách nhiệm pháp lý khi cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ PBGDPL.
Để khắc phục, đồng chí đề xuất bổ sung tại Điều 37 trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai công tác PBGDPL. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này cần gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm và trở thành một tiêu chí bắt buộc trong công tác thi đua, khen thưởng của cơ quan, tổ chức.
    |
 |
| Đồng chí Lê Văn Đông, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh phát biểu tại Tổ vào chiều ngày 4/8/2026 đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước. |
Góp ý hoàn thiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo vệ quyền lợi của người dân và người thi hành công vụ
Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đồng chí Lê Văn Đông đánh giá dự thảo được chuẩn bị công phu, chi tiết, với nhiều nội dung mới nhằm thể chế hóa 3 định hướng lớn của Đảng và Nhà nước.
Trong đó, đáng chú ý là việc cụ thể hóa Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/1/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó có quyền được bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Để việc giải quyết bồi thường nhanh chóng, khách quan, minh bạch và bảo đảm quyền lợi của người dân, đồng chí Lê Văn Đông đề nghị dự thảo bổ sung quy định người yêu cầu bồi thường phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.
Đồng thời, cần mở rộng và bảo vệ các đối tượng đặc thù theo Quy định số 231-QĐ/TW, trong đó có người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án khi không được áp dụng biện pháp bảo vệ kịp thời, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Đồng chí cũng đề nghị quan tâm quyền phục hồi danh dự đối với công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên trái pháp luật do dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
Liên quan đến thời hạn xác minh thiệt hại tại khoản 17 Điều 1 dự thảo, đồng chí Lê Văn Đông cho rằng đây là khâu cốt lõi, làm cơ sở giải quyết yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên, việc dự thảo rút ngắn thời gian so với Luật hiện hành có thể tạo áp lực lớn đối với đội ngũ giải quyết bồi thường, trong bối cảnh nhiều người làm công tác này theo chế độ kiêm nhiệm và kinh nghiệm chuyên môn còn hạn chế. Điều này có thể gây khó khăn cho việc thu thập, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan.
Từ thực tiễn đó, đồng chí Lê Văn Đông kiến nghị điều chỉnh thời hạn xác minh thiệt hại đối với vụ việc thông thường lên 20 ngày; đối với vụ việc phức tạp hoặc có thỏa thuận giữa các bên là 30 ngày.
Bên cạnh đó, cũng đề nghị bổ sung quy định khuyến khích các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh chuyển đổi số, hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ theo dõi công tác bồi thường nhà nước.
Theo đó, việc có cơ sở pháp lý rõ ràng sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, đơn vị triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số, đồng thời nâng cao chất lượng công tác và năng lực quản lý về bồi thường nhà nước trong giai đoạn mới.
Những ý kiến đóng góp của đồng chí Lê Văn Đông tại phiên thảo luận Tổ tập trung vào các vấn đề cụ thể từ thực tiễn áp dụng pháp luật, từ trách nhiệm PBGDPL, nhiệm vụ đặc thù của các cơ quan đến trình tự giải quyết bồi thường và chuyển đổi số.
Các đề xuất là những nội dung để cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện hai dự án luật, hướng tới bảo đảm tính đồng bộ, khả thi khi áp dụng, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.