Kế hoạch số 41-KH/ĐU được ban hành nhằm thực hiện Chương trình hành động số 11-CTr/ ĐU ngày 28/5/2026 của Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương về việc thực hiện Nghị quyết số 05- NQ/TW ngày 7/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng (sau đây gọi là Nghị quyết 05).

Mục đích ban hành Kế hoạch nhằm phổ biến, quán triệt các văn bản của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và Kết luận số 43-KL/TW ngày 4/6/2026 về việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/4/2022 của Bộ Chính trị về “Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030” nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, từ đó đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong Đảng bộ VKSND tối cao.

Bên cạnh đó nhằm cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng; tăng cường kiểm soát quyền lực; đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, tự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, góp phần xây dựng Đảng bộ VKSND tối cao, ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh.

leftcenterrightdel
 VKSND tối cao dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bằng hình thức trực tuyến. (Ảnh minh hoạ)

Theo Kế hoạch số 41-KH/ĐU, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 05 và phải được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của từng cấp ủy, tổ chức đảng; bảo đảm thiết thực, khả thi, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, khắc phục tình trạng hình thức, đối phó trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

Kế hoạch nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp gồm: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

Nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; cụ thể hóa các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

Đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong ngành Kiểm tra Đảng; đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, trang thiết bị, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của uỷ ban kiểm tra các cấp.

Đồng thời, tăng cường phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Trong đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát ngay từ cơ sở; chủ động và phát huy vai trò của chi bộ, trách nhiệm đảng viên trong giám sát tổ chức đảng trên tinh thần "toàn đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát". Coi trọng giám sát thường xuyên để kịp thời phát hiện, uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục, ngăn ngừa vi phạm, không để vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng hơn, phức tạp hơn.

Cùng với đó là phối hợp, vận hành các phần mềm, ứng dụng, cơ sở dữ liệu công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện số hóa tài liệu, xây dựng, cập nhật, khai thác, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu; từng bước đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu "kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu", nghiên cứu ứng dụng các công cụ hỗ trợ phân tích, xử lý dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, nhất là kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ diện Ban Thường vụ Đảng ủy VKSND tối cao quản lý.

P.V