Theo đó, có Toà án nêu vướng mắc: Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình (trước ngày 1/7/2025) về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?

Về nội dung này, TAND tối cao cho biết, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025) thì hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 1/7/2025 đối với người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.

Do đó, trường hợp này, nếu bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy hoặc không xác định họ có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.

Một câu hỏi khác được nêu đó là: Khi xử lý vật, tiền có liên quan trong vụ án hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tổng số tiền cho vay qua nhiều lần giao dịch hay chỉ căn cứ vào số tiền gốc ban đầu để tịch thu sung quỹ nhà nước?

Nội dung này TAND tối cao hướng dẫn như sau: Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay. Theo đó, tùy từng trường hợp xử lý như sau:

leftcenterrightdel
 Quang cảnh phiên toà xét xử một vụ án hình sự. (Ảnh minh hoạ)

Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng mỗi lần giao dịch có số tiền gốc là độc lập, không liên quan đến nhau thì số tiền cho vay là tổng số tiền gốc của từng lần giao dịch.

Ví dụ: Lần 1, ngày 1/1/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 7 ngày với số tiền lãi là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày). Lần 2, ngày 5/1/2025, A lại tiếp tục cho B vay với số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 7 ngày, với số tiền lãi là 7.000.000 đồng. Trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.

Trường hợp cho vay nhiều làn nhưng lần giao dịch sau có số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi của lần trước mà chưa trả thì số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu.

Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 7 ngày với lãi suất là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 7 ngày với lãi suất 17.556.000 đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10.000.000 đồng.

Một vướng mắc khác đó là: Bị cáo thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định nồng độ cồn trong máu của bị cáo là 0,282mg/100ml (không xác định nồng độ cồn do nguyên nhân nào). Trường hợp này có áp dụng tình tiết “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo không?

Về nội dung này, TAND tối cao trả lời: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội bị áp dụng tình tiết này phải trong tình trạng có sử dụng rượu, bia. Do đó, để áp dụng tình tiết này thì kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia hoặc có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia. Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này.

Bên cạnh đó, có Toà án nêu vướng mắc: Nguyễn Văn A đưa bạn gái là Nguyễn Thị B (B 15 tuổi) về phòng trọ của A. Tại phòng trọ, trong một khoảng thời gian, A đã thực hiện hành vi giao cấu với B 2 lần. Trường hợp này, A có bị áp dụng tình tiết “phạm tội 2 lần trở lên” không?

Nội dung này, TAND tối cao cho biết: Theo hướng dẫn tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự thì “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện từ 2 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, trường hợp này, nếu mỗi lần thực hiện hành vi giao cấu của A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A bị áp dụng tình tiết “phạm tội 2 lần trở lên”.

Ngoài ra, một vướng mắc khác đó là: Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cho Tòa án nhưng Tòa án không chấp nhận đề nghị và trả hồ sơ để giải quyết theo thủ tục tố tụng, sau đó Viện kiểm sát ra cáo trạng đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định. Vậy tại giai đoạn xét xử, Tòa án có xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên nữa hay không?

Theo quy định tại khoản 6 Điều 151 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì “Khi xét xử, nếu thấy người chưa thành niên có đủ điều kiện dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì Hội đồng xét xử xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị cáo”. Như vậy, trong trường hợp này, nếu người chưa thành niên có đủ các điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Tòa án vẫn xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với họ.

P.V