leftcenterrightdel
 Hình ảnh tại phiên tòa trực tuyến.

Vừa qua, VKSND khu vực 6, TP Cần Thơ phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm trực tuyến hai cấp đối với vụ án “Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất”. Hoạt động nhằm rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự.

Trên cơ sở các tiêu chí lựa chọn phiên tòa rút kinh nghiệm trực tuyến hai cấp, đơn vị lựa chọn vụ án giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Lệ Th. và bị đơn là bà Lê Thị B. Đây là vụ án có nội dung tranh chấp khá phức tạp tại địa phương, liên quan đến nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất và diện tích đất các bên yêu cầu được công nhận.

Theo nội dung vụ án, cha mẹ bà Th. có tạo lập khối tài sản là quyền sử dụng đất với tổng diện tích 86.981 m², thuộc các thửa 305, 586, 600, 599 và 598, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Phước Thới B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, nay là ấp Phước Thới B, xã Mỹ Phước, TP Cần Thơ. Phần đất này được UBND huyện Mỹ Tú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B402057 ngày 14/9/1992.

Bà Th. trình bày, năm 2010, cha mẹ giao cho bà quản lý, sử dụng phần đất diện tích 700 m² thuộc thửa 305, tờ bản đồ số 4; diện tích thực tế sử dụng khoảng 1.600 m². Theo bà Th., phần đất này do cha mẹ khai hoang, quản lý, sử dụng ổn định trên 50 năm. Khoảng năm 2018, khi bà xây dựng nhà trên đất thì phát sinh tranh chấp với bà B.

Bà Th. khởi kiện, yêu cầu bà B. chấm dứt hành vi ngăn cản việc quản lý, sử dụng đất; đồng thời yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với hai phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế lần lượt là 916 m², trong đó có 166,3 m² thuộc hành lang đường đal, và 659,3 m², trong đó có 135,2 m² thuộc hành lang đường đan.

Bà B. không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đồng thời có yêu cầu phản tố, đề nghị chỉ công nhận cho bà Th. diện tích 700 m² theo giấy chứng nhận và buộc bà Th. trả lại phần đất 659,3 m² mà bà B. cho rằng thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 4 của mình.

Để chuẩn bị cho phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công đã nghiên cứu hồ sơ, xây dựng kế hoạch, bản đăng ký phiên tòa rút kinh nghiệm trực tuyến, báo cáo kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, dự thảo bài phát biểu và đề cương hỏi. Các tài liệu được gửi Phòng 7 VKSND TP Cần Thơ theo thời gian quy định.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng; đồng thời chủ động tham gia hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát.

Sau phiên tòa, VKSND khu vực 6, TP Cần Thơ tổ chức họp rút kinh nghiệm do đồng chí Lý Thị Hồng Anh, Phó Viện trưởng, chủ trì.

Các ý kiến tập trung phân tích ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên, nhất là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và tham gia hỏi tại phiên tòa. Trên cơ sở thảo luận, lãnh đạo đơn vị chỉ rõ những nội dung cần phát huy, những hạn chế cần khắc phục để Kiểm sát viên được phân công cùng công chức, Kiểm sát viên trong bộ phận dân sự rút kinh nghiệm chung.

Việc gắn phiên tòa với thảo luận, rút kinh nghiệm sau xét xử là hình thức tự đào tạo qua thực tiễn, tạo điều kiện để công chức, Kiểm sát viên trao đổi phương pháp nghiên cứu hồ sơ, xử lý tình huống và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ; qua đó nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự tại đơn vị.

Bé Năm - Việt An