Công văn số 3370/VKSTC-V14 nêu rõ: Thực hiện Kết luận số 09-KL/TW; Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH152; Nghị quyết số 2093/NQ- UBTVQH153, để bảo đảm triển khai nghiêm túc, hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, VKSND tối cao yêu cầu Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND các tỉnh, thành phố tập trung thực hiện một số nội dung được nêu tại Công văn này.

Tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung Kết luận số 09-KL/TW

Theo Công văn số 3370/VKSTC-V14, về Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới: Các đơn vị, VKSND các tỉnh, thành phố tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung Kết luận số 09-KL/TW để công chức, viên chức, người lao động nhận thức đầy đủ về ý nghĩa chính trị, yêu cầu cấp thiết, các mục tiêu, định hướng của việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong đó đặc biệt lưu ý một số định hướng sau: Cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của các cơ quan Trung ương; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương) và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán và lẽ công bằng).

Mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ, theo hướng án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chưa được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoặc chưa được quy định rõ ràng trong một số trường hợp cụ thể.

Quán triệt nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì thực hiện theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với quy phạm pháp luật chung.

Quá trình tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm chủ trì, phối hợp xây dựng của VKSND tối cao, đề nghị các đơn vị thuộc VKSND tối cao quán triệt, thực hiện nghiêm một số nội dung sau:

Thứ nhất, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật phải quy định rõ mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, hiệu lực áp dụng, quy định chuyển tiếp, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc xây dựng và thi hành pháp luật.

Thứ hai, hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật. Đối với các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức (quy phạm pháp luật công) cần được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm kiểm soát, phòng ngừa hiệu quả nguy cơ lạm dụng, lợi dụng quyền lực. Đối với các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là các cá nhân, tổ chức không mang quyền lực nhà nước (quy phạm pháp luật tư) có liên quan thì thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thoả thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng phục vụ phát triển đất nước.

leftcenterrightdel
 Quang cảnh Hội nghị phổ biến, quán triệt nội dung của các Thông tư liên tịch do VKSND tối cao tổ chức. (Ảnh minh hoạ)

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc "thượng tôn Hiến pháp và pháp luật", Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật, bao gồm: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính. Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài các quy định chi tiết, cụ thể, còn có các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật.

Thứ năm, đẩy mạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật phục vụ kiến tạo phát triển, phát huy vai trò dẫn dắt, “đi trước mở đường” của pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh.

Thứ sáu, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh truyền thông chính sách, pháp luật; chăm lo xây dựng đội ngũ người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật; tăng cường tính chuyên nghiệp trong công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng cơ chế đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành; đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng 

Về nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Các đơn vị, VKSND các tỉnh, thành phố tổ chức quán triệt, tuyên truyền đầy đủ, sâu rộng, toàn diện ý nghĩa chính trị để công chức, viên chức, người lao động nhận thức rõ việc tiến hành tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng được nêu tại Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị; đồng thời đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa tại Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. 

Thủ trưởng các đơn vị, VKSND các tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo tổ chức quán triệt, tuyên truyền nội dung Kết luận số 09-KL/TW, Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 bằng hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn của đơn vị; bảo đảm việc tuyên truyền được thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công chức, viên chức, người lao động trong công tác xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật.

Việc tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện ngay các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn do quy định pháp luật để giải quyết kịp thời; cải cách thủ tục hành chính triệt để, cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và các điều kiện đầu tư, kinh doanh, hành nghề không cần thiết, không hợp lý, tạo gánh nặng tuân thủ; giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp, giảm chi phí tuân thủ; áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tháo gỡ rào cản, khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh phân quyền, phân cấp; tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là mục tiêu tăng trưởng “2 con số”; đồng thời thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.

Kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở để đề xuất kiến nghị hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo đúng tinh thần Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị, bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, thống nhất, đồng bộ, khả thi; khơi thông mọi nguồn lực, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, mở đường cho kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Ngoài ra, Thủ trưởng các đơn vị, Viện trưởng VKSND các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm đúng quy định pháp luật và hướng dẫn của Ban Chỉ đạo, VKSND tối cao và cơ quan có thẩm quyền…

P.V