Thông tư này quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026 của Chính phủ về: Quy định chung về thi đua, khen thưởng; tuyến trình khen thưởng đối với cơ quan đảng, đoàn thể, Hội đồng nhân dân, các tổ chức tôn giáo; việc khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị ; công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến, phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng, cấp phát, cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng; chuẩn bị hiện vật khen thưởng.
Quy định chung về thi đua, khen thưởng
Theo Thông tư quy định, đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc đột xuất thì người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền. Trường hợp thành tích tiêu biểu xuất sắc, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc lĩnh vực thuộc Bộ, ban, ngành, tỉnh quản lý hoặc phạm vi toàn quốc thì Bộ, ban, ngành, tỉnh có trách nhiệm đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước theo tiêu chuẩn quy định.
Khen thưởng khi sơ kết, tổng kết phong trào thi đua do Bộ, ban, ngành, tỉnh phát động.
Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện việc khen thưởng theo thẩm quyền. Bộ, ban, ngành, tỉnh không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước cho tập thể, cá nhân không thuộc quyền quản lý (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg ngày 16/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng).
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 3 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích tiêu biểu đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 5 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc tiêu biểu đề nghị Thủ tướng Chính phủ xét trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba hoặc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
Khi Bộ, ban, ngành, tỉnh tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế, khu vực... thì thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền, không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.
    |
 |
| Đồng chí Trần Hải Quân, Phó Viện trưởng VKSND tối cao và tập thể lãnh đạo Báo BVPL chúc mừng đồng chí Phan Thị Kim Hoa, nguyên Phó Tổng Biên tập Báo BVPL vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. (Ảnh minh họa) |
Việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau:
Cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của bệnh viện hoặc Trung tâm y tế khu vực trở lên thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để bình xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”;
Cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 1 năm, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì thời gian học tập được tính vào thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để được bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.
Trường hợp cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ 1 năm trở lên thì thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Ngoài các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định chung, trong thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, cá nhân phải chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ học tập, đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên (đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng có đánh giá, xếp loại kết quả học tập) hoặc được cơ sở đào tạo cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng (đối với các khóa đào tạo, bồi dưỡng không tổ chức đánh giá, xếp loại);
Đối với cá nhân chuyển công tác hoặc được điều động, biệt phái đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ (đối với cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức) hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị mới (đối với cá nhân không phải là cán bộ, công chức, viên chức) thực hiện. Trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 6 tháng trở lên phải có ý kiến nhận xét của cơ quan cũ;
Không xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” đối với cá nhân mới tuyển dụng dưới 6 tháng.
Hình thức tổ chức thi đua
Về hình thức tổ chức thi đua, Thông tư nêu rõ 2 hình thức là thi đua thường xuyên và thi đua theo chuyên đề.
Theo đó, thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc thường xuyên của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau được chia theo khối thi đua, cụm thi đua.
Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và được triển khai thực hiện tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc theo cụm, khối thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua. Kết thúc năm công tác, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị, trưởng các cụm thi đua, khối thi đua tiến hành tổ chức tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua.
Thi đua theo chuyên đề là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực cần tập trung được xác định hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định. Việc phát động thi đua theo chuyên đề phải xác định rõ thời gian thực hiện, mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp tổ chức thực hiện và tiêu chí đánh giá kết quả; bảo đảm tính thiết thực, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/2026 và thay thế Thông tư số 15/2025/TT-BNV ngày 4/8/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14/6/2025 của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.