Tín dụng đầu tư của Nhà nước đang có điều kiện trở lại đúng vai trò trong hỗ trợ đầu tư phát triển. Nhưng đi cùng đà tăng đó là một bài toán không dễ: Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) phải có đủ nguồn vốn trung, dài hạn để thực hiện các hợp đồng đã ký và tiếp tục cho vay dự án mới, trong khi kênh huy động chủ lực - trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đang bị khống chế theo nghĩa vụ trả nợ gốc hằng năm. Đặt cạnh cơ chế giới hạn cấp tín dụng tại Nghị định số 78/2023/NĐ-CP, khó khăn không chỉ nằm ở lượng vốn có thể huy động mà còn tác động trực tiếp đến quy mô cấp tín dụng của VDB. Đây là thực tiễn cần được nhìn nhận để có kiến nghị tháo gỡ có căn cứ, trong khi vẫn giữ chặt chẽ kỷ luật thẩm định và an toàn vốn Nhà nước.

NHỮNG CON SỐ THỂ HIỆN SỰ NỖ LỰC CỦA ĐẢNG BỘ VÀ TOÀN HỆ THỐNG

Sau 20 năm hoạt động, đến năm 2026, tổng tài sản của VDB đạt hơn 187.000 tỉ đồng, tăng hơn 62% so với thời điểm thành lập; tổng vốn huy động đạt trên 622.000 tỉ đồng, trong đó trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh vẫn là cấu phần chủ lực.

leftcenterrightdel
 

Thực hiện Nghị định số 78/2023/NĐ-CP của Chính phủ, đến hết năm 2025, VDB đã tiếp nhận thẩm định trên 70 dự án với tổng số vốn đề nghị vay khoảng 35.000 tỉ đồng; ký hợp đồng tín dụng cho vay hơn 30 dự án với tổng số vốn trên 13.000 tỉ đồng; giải ngân 6.455 tỉ đồng. Tín dụng đầu tư tăng khoảng 7,7%, là mức tăng trưởng cao nhất trong hơn 10 năm và cơ bản đạt mức được Thủ tướng Chính phủ giao tối đa năm 2025 là 8%. Chênh lệch thu - chi đạt trên 3.300 tỉ đồng, tương đương 168% kế hoạch; công tác thu hồi nợ đạt trên 100% kế hoạch.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì, đến hết tháng 6 năm 2026, dư nợ vốn tín dụng đầu tư tăng 5,4% so với cuối năm 2025; tổng số vốn giải ngân đạt 4.783 tỉ đồng. VDB tiếp nhận hồ sơ vay vốn của trên 80 dự án với tổng nhu cầu hơn 47.000 tỉ đồng, đã ký hợp đồng tín dụng cho vay 29 dự án với tổng số vốn theo hợp đồng hơn 20.000 tỉ đồng. Giá trị nợ xấu giảm 559 tỉ đồng so với cuối năm 2025.

Đến tháng 8/2026, VDB đã tiếp tục ký thêm nhiều Hợp đồng tín dụng. Trong đó có nhiều dự án trọng điểm quy mô lớn, đặc biệt là 02 dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc (mức vốn vay VB: 7.396 tỉ đồng - là khoản tín dụng lớn nhất VDB cho vay kể từ khi thực hiện Nghị định 78/2023/NĐ-CP của Chính phủ) và Bảo Lộc - Liên Khương (4.978 tỉ đồng), là các dự án tiếp nối cao tốc Dầu Giây - Tân Phú (đã ký Hợp đồng tín dụng năm 2025 với mức vốn vay VDB 5.000 tỉ đồng)... 03 dự án cao tốc từ Dầu Giây lên Liên khương sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và tạo sự liên kết mạnh mẽ giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Những con số này thể hiện nhiều khía cạnh. Hơn 60.000 tỉ đồng nhu cầu vay chưa phải là số vốn phải giải ngân ngay; khoảng 40.000 tỉ đồng vốn được chấp thuận theo hợp đồng cũng sẽ giải ngân dần theo tiến độ và điều kiện của từng dự án, không phải một lần. Nhưng số lượng dự án và quy mô cam kết đã tăng lên rõ rệt, điều đó đặt VDB trước yêu cầu phải làm tốt cùng lúc hai việc: chọn đúng dự án, và chuẩn bị được nguồn vốn với quy mô và thời hạn phù hợp để đáp nhu cầu và ứng tiến độ giải ngân theo hợp đồng tín dụng.

KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ NGUỒN VỐN VÀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG

Một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay của VDB nằm ở cơ chế huy động trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị quy định: Hạn chế tối đa cấp bảo lãnh chính phủ cho các khoản vay mới, khống chế hạn mức bảo lãnh cho hai ngân hàng chính sách tối đa bằng nghĩa vụ trả nợ gốc hằng năm. Quy định này đã được VDB chấp hành nghiêm túc và thực hiện liên tục từ năm 2017. Nhưng khi VDB bước sang giai đoạn tăng trưởng tín dụng trở lại, cơ chế giới hạn theo số gốc đến hạn hằng năm bắt đầu bộc lộ những vướng mắc cần được báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét xử lý.

Vướng mắc sẽ càng bộc lộ rõ hơn từ năm 2027 nếu cơ chế phát hành vẫn giữ nguyên như hiện nay. Khi phần lớn khối lượng phát hành mới chỉ dùng để bù đắp số nợ gốc trái phiếu đến hạn, khả năng tạo thêm nguồn vốn trung, dài hạn cho tăng trưởng tín dụng đầu tư của Nhà nước sẽ gặp khó khăn. Mặt khác, nếu thời điểm hoặc khối lượng phát hành mới không tương ứng với thời điểm và khối lượng trái phiếu đến hạn, số dư trái phiếu đủ điều kiện tính vào cơ sở xác định giới hạn cấp tín dụng có thể giảm, làm thu hẹp dư địa cho vay. Và nếu VDB đã ký hợp đồng tín dụng nhưng nguồn vốn không được bổ sung đúng tiến độ, áp lực bảo đảm cam kết giải ngân với khách hàng cũng có thể phát sinh - đây là khó khăn đang dần hiện hữu.

leftcenterrightdel
 

Có thể thấy rằng, khó khăn này không phải là VDB đã thiếu vốn ở mọi thời điểm. Năm 2025, dù không được giao kế hoạch huy động trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, VDB vẫn đáp ứng đủ nguồn vốn cho nhu cầu sử dụng trong năm. Vấn đề đặt ra là khả năng đáp ứng nguồn trong các năm tới, khi dư nợ được giao tăng trưởng hai con số, số hợp đồng tín dụng đã ký tăng lên, và nhu cầu vốn của các dự án trung, dài hạn ngày càng lớn. Đây là vấn đề có tính cơ cấu, cần được đánh giá căn cơ hơn, bằng kế hoạch dòng tiền nhiều năm, không thể chỉ nhìn số dư tại một thời điểm.

Nghị định số 78/2023/NĐ-CP quy định: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (không bao gồm các khoản tín dụng Ngân hàng Phát triển Việt Nam không chịu rủi ro) tính trên vốn tự có và số dư trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn còn lại từ 05 năm trở lên của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không được vượt quá 15% đối với một khách hàng, không được vượt quá 25% đối với một khách hàng và người có liên quan. Đây là giới hạn an toàn cần thiết để kiểm soát rủi ro tập trung. Nhưng cách xác định mẫu số khiến quy mô trái phiếu dài hạn được Chính phủ bảo lãnh tác động trực tiếp đến khả năng cấp tín dụng của VDB.

Khó khăn thứ hai là lịch giải ngân của dự án không đi theo lịch đáo hạn trái phiếu. Khi VDB ký hợp đồng tín dụng cho một dự án đầu tư, việc giải ngân thường kéo dài qua nhiều kỳ theo tiến độ xây dựng, nghiệm thu, thanh toán và các điều kiện giải ngân. Đến tháng 8/2026, VDB đã ký hơn 30 hợp đồng với tổng số vốn được chấp thuận trên 30.000 tỉ đồng - chưa phải số phải giải ngân ngay, nhưng là những cam kết cần được bố trí nguồn theo tiến độ trong thời gian tới.

Trong thực tế quản trị nguồn vốn, nhu cầu từng năm gồm giải ngân cho hợp đồng đã ký, giải ngân cho dự án mới, nghĩa vụ trả nợ, dự phòng thanh khoản; đối ứng với đó là thu hồi nợ, vốn tự có và các nguồn huy động. Khi kế hoạch phát hành trái phiếu chỉ được xác định theo số gốc đến hạn, còn nhu cầu giải ngân lại phụ thuộc tiến độ dự án, hai dòng tiền này có thể lệch nhau. Số dự án lớn càng tăng, độ lệch càng dễ trở thành rủi ro về cân đối kỳ hạn và tiến độ giải ngân.

Thông tư số 26/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 9/8/2026, yêu cầu VDB duy trì tỷ lệ dự trữ thanh khoản tối thiểu 0,6% và tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng nguồn vốn được sử dụng để cho vay tối đa 95%, cùng với các quy định chặt hơn về quản lý cấp tín dụng và thanh khoản. Điều này càng cho thấy VDB không thể xử lý nhu cầu tăng trưởng bằng cách dùng nguồn vốn thiếu ổn định hoặc kéo dài chênh lệch kỳ hạn. Nguồn vốn trung, dài hạn cần được chuẩn bị chủ động, phù hợp với nghĩa vụ giải ngân phát sinh.

Chính phủ đã có cơ chế bổ sung vốn điều lệ cho VDB tại Nghị định số 266/2025/NĐ-CP: Hằng năm, Ngân hàng Phát triển được ngân sách nhà nước cấp bổ sung vốn điều lệ để đạt tỷ lệ tăng trưởng vốn điều lệ bằng với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tối đa được Thủ tướng Chính phủ giao hằng năm khi đáp ứng điều kiện không có chênh lệch thu chi âm lũy kế tại thời điểm cuối năm liền kề trước năm xây dựng dự toán bổ sung vốn điều lệ. Đây là giải pháp quan trọng để tăng năng lực tài chính và mở rộng nền tính giới hạn cấp tín dụng. Nhưng vốn điều lệ và nguồn huy động trái phiếu có chức năng khác nhau; bổ sung vốn điều lệ không thể thay thế hoàn toàn nhu cầu huy động vốn trung, dài hạn theo tiến độ của các dự án.

Từ những vướng mắc nêu trên, việc tháo gỡ Nghị quyết 07 nên được đề xuất theo hướng có thể lượng hóa và kiểm soát được, thay vì chỉ xin nâng hạn mức. Trước hết, cần tổng kết riêng việc thực hiện quy định về bảo lãnh đối với hai ngân hàng chính sách từ năm 2017 đến nay. Với VDB, bộ số liệu tổng kết tối thiểu cần thể hiện: khối lượng trái phiếu đến hạn và phát hành mới từng năm; cơ cấu kỳ hạn; số dư trái phiếu còn từ 5 năm trở lên; vốn tự có; mức giới hạn cấp tín dụng; dư nợ, giải ngân, thu hồi nợ; số vốn đã cam kết nhưng chưa giải ngân; nhu cầu giải ngân theo tiến độ các hợp đồng; khả năng trả nợ và các tỷ lệ an toàn. Chỉ khi lượng hóa đầy đủ những chỉ tiêu này mới chứng minh được mức độ ảnh hưởng thực sự của cơ chế hiện hành.

Trên cơ sở tổng kết, có thể kiến nghị Bộ Chính trị xem xét sửa nội dung khống chế hạn mức bảo lãnh hằng năm theo hướng chuyển sang quản lý hạn mức bảo lãnh trung hạn, từ 3 đến 5 năm. Ở phương án thận trọng nhất, tổng khối lượng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành trong cả giai đoạn vẫn không vượt tổng số gốc đến hạn của cùng giai đoạn, nhưng được phép điều chuyển khối lượng phát hành giữa các năm. Năm nào nhu cầu giải ngân cao, nhiều dự án đủ điều kiện hoặc có lượng trái phiếu sắp rời ngưỡng 5 năm của Nghị định 78, khối lượng phát hành có thể cao hơn số gốc đến hạn của riêng năm đó; những năm sau điều chỉnh giảm tương ứng, để tổng hạn mức trung hạn không bị vượt.

Cơ chế điều kiện cũng cần được quy định rõ. Nếu chất lượng tín dụng xấu đi, tỷ lệ an toàn không bảo đảm, hoặc nhu cầu giải ngân thực tế giảm so với kế hoạch, thì hạn mức phát hành phải được điều chỉnh tương ứng kịp thời. Phần vốn được bảo lãnh tăng thêm phải có mục đích sử dụng xác định, chịu giám sát riêng, và được đánh giá sau một chu kỳ về hiệu quả tín dụng, nợ xấu, khả năng trả nợ. Có như vậy, kiến nghị sửa Nghị quyết 07 mới bảo đảm được cả hai yêu cầu: huy động vốn cho phát triển, và giữ kỷ luật nợ công.

Cùng với sửa cơ chế bảo lãnh, cần rà soát đồng bộ Nghị định 78, để xử lý hợp lý hơn sự phụ thuộc của giới hạn cấp tín dụng vào số dư trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh còn từ 5 năm trở lên. VDB cũng cần tiếp tục làm tốt phần việc thuộc trách nhiệm của chính mình: xây dựng kế hoạch nguồn vốn trung hạn gắn với kế hoạch tín dụng; lập đầy đủ danh mục cam kết chưa giải ngân; nâng vốn tự có theo cơ chế được cấp có thẩm quyền quyết định; đa dạng hóa nguồn vốn hợp pháp; tăng đồng tài trợ đối với dự án lớn; tập trung thu hồi đủ nợ đến hạn và quay vòng vốn…

Cơ sở chính trị cho việc nghiên cứu điều chỉnh cũng đã rõ hơn. Kết luận số 18-KL/TW năm 2026 tiếp tục đặt yêu cầu quản lý nợ công an toàn, bền vững, đồng thời nhấn mạnh việc điều hành linh hoạt công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay để đáp ứng yêu cầu phát triển. Như vậy, kiến nghị sửa cơ chế bảo lãnh cho VDB có thể đặt trong đúng nguyên tắc đó: trần an toàn quốc gia không đổi, nhưng cách phân bổ hạn mức theo thời gian cần linh hoạt hơn và dựa trên dữ liệu thực tế.

Như vậy, nội dung cần kiến nghị với Bộ Chính trị có thể diễn đạt gọn theo hướng: tổng kết việc thực hiện quy định khống chế hạn mức bảo lãnh đối với hai ngân hàng chính sách tại Nghị quyết số 07-NQ/TW; trên cơ sở đó, đối với VDB xin được xem xét chuyển từ giới hạn hằng năm bằng nghĩa vụ trả nợ gốc sang hạn mức bảo lãnh trung hạn có điều kiện, cho phép bố trí linh hoạt khối lượng phát hành giữa các năm, và chỉ xem xét tăng ròng khi có nhu cầu thực, có nguồn trả nợ, đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu an toàn và nằm trong giới hạn nợ công được cấp có thẩm quyền quyết định. Đây là cách tháo gỡ đúng vào nguyên nhân của vướng mắc, mà vẫn giữ được cơ chế kiểm soát cần thiết đối với nghĩa vụ bảo lãnh Chính phủ.

NGUỒN VỐN CÀNG HẠN CHẾ, THẨM ĐỊNH CÀNG PHẢI CHẶT

Việc đề xuất tháo gỡ cơ chế huy động không làm giảm vai trò của thẩm định. Ngược lại, khi VDB có thêm khả năng chủ động về nguồn vốn, trách nhiệm lựa chọn dự án càng lớn hơn. Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước phải dành cho những dự án đúng đối tượng, có hiệu quả, có khả năng trả nợ, và thực sự cần vai trò của một định chế chính sách.

Thẩm định dự án tại VDB không thể dừng ở việc kiểm tra hồ sơ đủ hay thiếu, mà phải đi đến bản chất của phương án đầu tư: tổng mức đầu tư có hợp lý không; vốn chủ sở hữu có thể bố trí theo tiến độ hay chỉ là cam kết trên giấy; doanh thu có căn cứ từ thị trường hay chỉ là kỳ vọng; chi phí vận hành và chi phí tài chính đã tính đủ chưa; pháp lý đất đai, xây dựng, môi trường, điện lực hay các thủ tục chuyên ngành đã hoàn thiện đến đâu; kịch bản bất lợi có làm dự án mất khả năng trả nợ hay không…

Những dự án lớn còn phải được xem trong mối quan hệ với danh mục của toàn hệ thống. Một dự án có thể tốt nếu đứng riêng lẻ, nhưng khoản cấp tín dụng quá lớn vẫn có thể làm tăng rủi ro tập trung, hoặc chiếm dụng phần lớn giới hạn của một khách hàng, một nhóm khách hàng. Việc quyết định mức vốn VDB tham gia, tỷ lệ đồng tài trợ và tiến độ giải ngân, vì thế, phải gắn với giới hạn cấp tín dụng, khả năng nguồn vốn và chất lượng danh mục hiện hữu - không thể xét riêng từng dự án mà bỏ qua bức tranh chung.

leftcenterrightdel
 

Dữ liệu là điều kiện để nâng chất lượng thẩm định. Các dự án điện, hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, cấp nước, xử lý môi trường hay công nghiệp hỗ trợ đều có những chỉ tiêu đặc thù riêng. Nếu mỗi hồ sơ lại bắt đầu gần như từ đầu, dựa phần lớn vào dữ liệu do chính chủ đầu tư cung cấp, chất lượng thẩm định khó mà đồng đều. VDB cần tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu về suất đầu tư, giá thành, sản lượng, tiến độ, chi phí vận hành, hiệu quả thực tế và tình trạng trả nợ của các dự án đã tài trợ, để phục vụ kiểm tra chéo các giả định trong hồ sơ mới.

Công tác sau vay cũng phải trở thành nguồn dữ liệu ngược cho thẩm định. Dự án nào chậm tiến độ, cần xác định nguyên nhân đến từ pháp lý, năng lực nhà thầu, tổng mức đầu tư hay vốn chủ sở hữu; dự án nào thiếu dòng tiền, cần xem lại giả định doanh thu hoặc chi phí ban đầu sai ở đâu; dự án nào trả nợ tốt, cần rút ra điều kiện thành công để nhân rộng. Khi dữ liệu sau vay quay trở lại khâu thẩm định, kinh nghiệm của một dự án mới thực sự trở thành tài sản chung của toàn hệ thống, chứ không nằm im trong hồ sơ lưu trữ.

Đây là phần việc mà tổ chức Đảng có thể lãnh đạo rất cụ thể: chỉ đạo xây dựng kỷ luật dữ liệu, trách nhiệm phản biện, cơ chế bảo lưu ý kiến, kiểm tra chất lượng hồ sơ, và đánh giá cán bộ bằng kết quả thực tế của khoản tín dụng - không nên chỉ đánh giá một cán bộ bằng số hồ sơ xử lý hay số vốn giải ngân, bởi chất lượng tín dụng chỉ bộc lộ đầy đủ sau một thời gian đủ dài.

KỶ LUẬT ĐỂ ĐỒNG VỐN ĐI ĐÚNG NƠI

VDB đang đứng trước cơ hội mở rộng vai trò của tín dụng đầu tư của Nhà nước, sau một thời gian dài cơ cấu lại. Kết quả năm 2025 và sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy nhu cầu vốn của doanh nghiệp lớn, khả năng tiếp nhận dự án của hệ thống đã tăng, hoạt động tín dụng có chuyển biến tích cực. Nhưng chính giai đoạn này cũng làm lộ rõ những giới hạn về nguồn vốn, vốn tự có và quy mô cấp tín dụng.

Vướng mắc liên quan Nghị quyết 07 cần được nhìn đúng quy mô của nó. Quy định hạn mức bảo lãnh bằng nghĩa vụ trả nợ gốc hằng năm khiến kênh trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh khó tạo thêm nguồn vốn ròng cho tăng trưởng - thực tế năm 2025, mức phát hành được phê duyệt cho VDB là 0 đồng. Kết hợp với Nghị định 78, việc số dư trái phiếu còn kỳ hạn từ 5 năm trở lên giảm đi còn làm thu hẹp trực tiếp nền tính giới hạn cấp tín dụng. Trong khi đó, nghĩa vụ giải ngân của các dự án đã ký lại phụ thuộc tiến độ đầu tư, không phụ thuộc lịch trái phiếu đáo hạn. Ba yếu tố đó cộng lại thành một nút thắt cần được xử lý đồng bộ.

Cách tháo gỡ hợp lý nhất là thay đổi cách quản lý hạn mức, nhưng phải gắn với kiểm soát chặt chẽ. Hạn mức trung hạn, cho phép điều hòa khối lượng phát hành giữa các năm, sẽ giúp VDB chủ động hơn mà vẫn giữ được tổng nghĩa vụ bảo lãnh trong giới hạn của cả giai đoạn. Chỉ khi nhu cầu tăng trưởng vượt khả năng nguồn lực hiện có mới nên xem xét phần tăng ròng, với điều kiện rõ về an toàn nợ công, chất lượng tín dụng, khả năng trả nợ và mục đích sử dụng vốn. Với dư địa nợ công quốc gia hiện còn cách khá xa các ngưỡng cảnh báo, phần tăng ròng có điều kiện đó hoàn toàn khả thi mà không phá vỡ kỷ luật tài khóa.

VDB cũng phải tiếp tục chứng minh bằng chính chất lượng hoạt động của mình rằng nguồn vốn được trao thêm sẽ được sử dụng đúng mục tiêu. Tăng trưởng tín dụng chỉ bền vững khi đi đôi với thẩm định chặt chẽ, quản trị rủi ro hiệu quả, giám sát sau vay đảm bảo thực chất và thực hiện thu hồi nợ đúng hạn. Đây cũng chính là nơi vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng thể hiện rõ nhất: đặt nhiệm vụ chính trị vào đúng quy trình chuyên môn, xây dựng đội ngũ có năng lực, và giữ kỷ luật trách nhiệm trong từng quyết định, dù nhỏ. Nhiệm vụ chính trị cốt lõi của VDB là thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước - đưa vốn đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu, và bảo toàn được nguồn lực. Cho nên phẩm chất của cán bộ, đảng viên phải thể hiện ngay trong quá trình tác nghiệp: đánh giá hồ sơ trên cơ sở dữ liệu, phản ánh đầy đủ rủi ro, không bỏ qua điều kiện pháp lý, không làm nhẹ những giả định bất lợi, và chịu trách nhiệm về kết luận chuyên môn. Ranh giới đó cần được giữ rõ, tránh cả hai thái cực: hành chính hóa công tác Đảng, hoặc ngược lại, tách công tác Đảng ra khỏi những vấn đề thực chất của hoạt động chuyên môn.

Thẩm định, tín dụng cũng là khâu tham gia đề xuất phân bổ nguồn lực, dù ít khi được nhìn theo cách đó. Nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước có giới hạn; một khoản vốn dành cho dự án này đồng nghĩa dư địa cho dự án khác bị thu hẹp tương ứng. Cho nên ngoài điều kiện vay vốn thông thường, người thẩm định còn phải cân nhắc mức độ cần thiết của dự án đối với mục tiêu phát triển, khả năng tạo dòng tiền, mức độ sử dụng vốn chính sách, và tác động của khoản vay đến toàn bộ danh mục tín dụng của VDB.

Một cơ chế vốn phù hợp giúp VDB có thêm khả năng thực hiện nhiệm vụ. Nhưng chính hệ thống thẩm định mới quyết định nguồn lực đó có được dùng hiệu quả hay không - hai việc này không thể tách rời. Cơ chế được tháo gỡ trên cơ sở khoa học, còn từng khoản tín dụng vẫn được kiểm soát bằng kỷ luật nghề nghiệp: chỉ khi đó, tín dụng đầu tư của Nhà nước mới vừa mở rộng được quy mô, vừa giữ được chất lượng và khả năng hoàn trả.

Với VDB, đó cũng là cách cụ thể nhất để đưa chủ trương của Đảng vào hoạt động hằng ngày: nhìn thẳng vào những điểm nghẽn đã bộc lộ từ thực tiễn, đề xuất sửa bằng số liệu và lập luận có căn cứ, đồng thời tự nâng chuẩn quản trị của chính mình trước khi đề nghị được trao thêm nguồn lực. Kỷ luật, nếu được thiết kế đúng, không làm đồng vốn chậm lại. Nó giúp đồng vốn đi đúng dự án, đúng thời điểm, và quay trở lại để tiếp tục phục vụ đầu tư phát triển. Đặc biệt là VDB có thể có đủ nguồn lực để góp sức mình vào mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số” giai đoạn 2026 - 2030 của đất nước./.

PV