Theo đó, Kế hoạch được xây dựng trên nền tảng tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2021 – 2025, khi kim ngạch xuất khẩu tăng 2,5 lần sau sáp nhập.

Xuất khẩu tăng tốc mạnh sau sáp nhập tỉnh

Sau khi thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW về sáp nhập ba tỉnh Ninh Bình – Hà Nam – Nam Định, quy mô kinh tế và lực sản xuất của tỉnh mới được mở rộng đáng kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2021 của ba địa phương cũ chỉ đạt 9,16 tỷ USD, nhưng đến năm 2025 đã tăng lên 22,75 tỷ USD, tức tăng 2,5 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân 25% mỗi năm.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh hoạ

Cơ cấu xuất khẩu ngày càng đa dạng, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến như dệt may, cơ khí, điện tử, sản xuất vật liệu, chế biến thực phẩm. Hiện toàn tỉnh có hơn 1.100 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu mở rộng đến hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó nhiều thị trường mới được khai phá nhờ việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA, UKVFTA.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, hoạt động xuất khẩu của Ninh Bình vẫn đối mặt nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp có kim ngạch lớn vẫn hoạt động theo hình thức gia công, khiến giá trị gia tăng thấp và dễ tổn thương trước biến động nguyên liệu hoặc thay đổi đơn hàng từ đối tác nước ngoài.

Cạnh tranh gia tăng gay gắt ở nhiều nhóm hàng chủ lực, đặc biệt là dệt may và nông sản. Trong khi đó, các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản không ngừng tăng cường rào cản kỹ thuật và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.

Ngoài ra, hạ tầng logistics của tỉnh hiện còn thiếu đồng bộ, chưa có các trung tâm logistics quy mô lớn, kho ngoại quan hay ICD, khiến chi phí vận chuyển cao và giảm sức cạnh tranh của hàng hóa. Cùng lúc đó, bối cảnh quốc tế phức tạp với xung đột địa chính trị, biến động giá nguyên liệu, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng tiếp tục tạo thêm áp lực cho nền xuất khẩu.

Đặt mục tiêu cho tốc độ tăng trưởng

Kế hoạch mới đặt ra mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 12% mỗi năm trong giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới mốc 40 tỷ USD vào năm 2030. Cơ cấu hàng hóa tiếp tục ưu tiên công nghiệp chế biến, dự kiến chiếm tới 99,675% tổng kim ngạch.

Tỉnh định hướng phát triển mạnh các mặt hàng chủ lực như camera modul, linh kiện điện tử, ô tô và linh kiện ô tô, máy tính và linh kiện, cùng với may mặc, giày dép, vật liệu xanh và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Riêng nhóm hàng nông – thủy sản dự kiến đạt 120 triệu USD vào năm 2030, hướng đến sản phẩm chất lượng cao, chế biến sâu, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế. Nhóm hàng thủ công mỹ nghệ dù có quy mô nhỏ nhưng vẫn được kỳ vọng đạt 30 triệu USD nhờ khai thác giá trị văn hóa truyền thống và thị trường ngách.

Chiến lược thị trường ASEAN – Mỹ – EU

Ninh Bình đặt mục tiêu đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc và khai thác triệt để các hiệp định thương mại tự do. ASEAN được xác định là khu vực ưu tiên hàng đầu nhờ lợi thế từ ATIGA và RCEP, với trọng tâm vào Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Lào và Myanmar.

Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục là đối tác chiến lược đối với các mặt hàng may mặc, cơ khí, linh kiện điện tử và nông sản chế biến. Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan được định hướng mở rộng đối với sản phẩm công nghiệp chế biến, trong khi Ấn Độ và Trung Đông là thị trường tiềm năng cho linh kiện điện tử, may mặc và xi măng.

Tại châu Âu, EVFTA tiếp tục là động lực lớn mở rộng thị trường Đức, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và toàn bộ khu vực EU. Tại châu Mỹ, thị trường Mỹ dự kiến chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ thích ứng các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ, đồng thời mở rộng sang Canada, Mexico, Brazil, Argentina thông qua CPTPP và các cơ chế hợp tác mới.

Ngoài ra, tỉnh dự kiến tăng cường khai thác thị trường châu Phi như Angola, Ai Cập, Nam Phi và khu vực châu Đại Dương như Australia và New Zealand.

Các nhóm giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030

Để đạt được mục tiêu, Ninh Bình đưa ra năm nhóm giải pháp lớn. Thứ nhất là nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua cải thiện môi trường đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính và tăng cường phòng chống gian lận thương mại. Hoạt động xúc tiến thương mại sẽ được đổi mới theo hướng gắn kết với du lịch và chuyển đổi số.

Thứ hai là ứng dụng khoa học – công nghệ, hướng tới sản xuất xanh, công nghệ cao và chủ động tạo nguồn nguyên liệu nội địa đáp ứng quy tắc xuất xứ của các FTA. Nhiều ngành được khuyến khích phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.

Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo lao động chất lượng cao, bồi dưỡng kiến thức hội nhập quốc tế cho doanh nghiệp và tăng cường cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động.

Thứ tư là nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận vốn nhanh và minh bạch.

Thứ năm là đầu tư phát triển sản xuất, hình thành trung tâm cung ứng nguyên liệu và các khu công nghiệp mới, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp mũi nhọn.

Với tầm nhìn đến năm 2030, Ninh Bình đặt quyết tâm trở thành một trong những trung tâm sản xuất – xuất khẩu quan trọng của khu vực phía Bắc. Sự kết hợp giữa công nghiệp điện tử, cơ khí – ô tô, công nghiệp hỗ trợ, may mặc, chế biến nông sản và vật liệu xanh được kỳ vọng sẽ tạo ra sức bật mới, giúp tỉnh bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn tiếp theo.

Đinh Huê - Quỳnh Anh