leftcenterrightdel
 Video: Nghị định 384/2026/NĐ-CP - Thiết lập khung pháp lý xác định xuất xứ hàng Việt.

Hoàn thiện hành lang pháp lý về xuất xứ hàng hóa

Ngày 30/10/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tổ chức Hội nghị đánh giá công tác quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa và phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về xuất xứ hàng hóa, với sự tham dự của đại diện các Sở Công Thương, hiệp hội ngành hàng và hơn 150 doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh, xuất nhập khẩu.

Tại hội nghị, đại diện Cục Xuất nhập khẩu cho biết, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chỉ đạo quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tháo gỡ những điểm nghẽn, kiến tạo môi trường phát triển và xây dựng hành lang pháp lý minh bạch.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu tham dự hội nghị.

Trong đó, hoàn thiện pháp luật về hàng hóa, chất lượng sản phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và minh bạch thông tin về đặc tính, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường thương mại trong nước lành mạnh, chất lượng và an toàn.

Trao đổi với phóng viên Báo Bảo vệ pháp luật, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, ngày 9/10/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, đây là văn bản pháp lý đầu tiên thiết lập khuôn khổ riêng, thống nhất và đầy đủ về xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trên thị trường nội địa.

Trước đây, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về xuất xứ hàng hóa để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là xác định xuất xứ nhằm hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, chưa có một khuôn khổ pháp lý riêng, thống nhất và đầy đủ để doanh nghiệp tự xác định, công bố xuất xứ Việt Nam.

Việc ban hành Nghị định số 384/2026/NĐ-CP nhằm bổ sung khoảng trống này, xây dựng hệ thống tiêu chí xác định xuất xứ minh bạch, có căn cứ và phù hợp với pháp luật hiện hành. Qua đó, tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động xác định, công bố xuất xứ sản phẩm; đồng thời giúp cơ quan quản lý có căn cứ kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật.

Đáng chú ý, quy định mới còn hướng đến tăng cường phòng, chống gian lận xuất xứ, hạn chế tình trạng giả mạo xuất xứ, bảo vệ uy tín, thương hiệu hàng hóa Việt Nam và ngăn ngừa hành vi chuyển tải bất hợp pháp.

Cùng với Nghị định số 384/2026/NĐ-CP, Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP về xuất xứ hàng hóa, nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định liên quan đến xuất xứ trong hoạt động xuất nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và các cam kết quốc tế.

Việc hoàn thiện đồng bộ hai khuôn khổ pháp lý được kỳ vọng tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ trong thương mại quốc tế.

leftcenterrightdel
 Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) trình bày nội dung Nghị định số 384/2026/NĐ-CP.

Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thông tin xuất xứ

Một trong những điểm doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm khi triển khai Nghị định số 384/2026/NĐ-CP là phạm vi chủ thể và trách nhiệm liên quan đến việc xác định, thể hiện xuất xứ hàng hóa.

Quy định mới liên quan đến nhiều chủ thể trong chuỗi sản xuất, kinh doanh, từ nhà sản xuất, thương nhân, đơn vị gia công, lắp ráp, nhà cung cấp nguyên liệu đến doanh nghiệp sở hữu thương hiệu và các tổ chức, cá nhân thể hiện thông tin xuất xứ trên nhãn hàng hóa hoặc tài liệu, vật phẩm liên quan.

Đối với nhà sản xuất, việc đầu tiên cần thực hiện là rà soát tiêu chí xuất xứ áp dụng cho từng sản phẩm. Doanh nghiệp cần quản lý đầy đủ thông tin về nguyên liệu đầu vào, nguồn cung cấp, quy trình sản xuất và các chi phí liên quan trong trường hợp áp dụng tiêu chí hàm lượng giá trị Việt Nam.

Đối với đơn vị gia công, lắp ráp và nhà cung cấp nguyên liệu, việc cung cấp thông tin chính xác về nguồn nguyên liệu, công đoạn sản xuất và chứng từ liên quan có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp ở công đoạn sản xuất tiếp theo đánh giá khả năng đáp ứng tiêu chí xuất xứ.

Đặc biệt, doanh nghiệp cần phân biệt hoạt động sản xuất tạo ra sự chuyển đổi cơ bản của hàng hóa với những công đoạn gia công, chế biến đơn giản không được xem xét khi xác định xuất xứ theo quy định.

Theo Điều 7 Nghị định số 384/2026/NĐ-CP, một số công đoạn như bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển, lưu kho; làm sạch, tẩy gỉ, tẩy dầu mỡ; thay đổi bao bì, đóng gói đơn giản; dán nhãn; phân loại, sàng lọc; lắp ráp đơn giản; kiểm tra, thử nghiệm đơn giản và một số công đoạn khác không được xem xét khi xác định xuất xứ nếu được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau theo quy định.

Điều này đồng nghĩa, việc một sản phẩm được đưa về Việt Nam để đóng gói, dán nhãn, phân loại hoặc thực hiện một số công đoạn đơn giản không mặc nhiên làm phát sinh xuất xứ Việt Nam.

Đối với thương nhân, doanh nghiệp phân phối, chủ sở hữu nhãn hiệu và các chủ thể công bố thông tin xuất xứ, trách nhiệm không chỉ dừng ở việc thể hiện thông tin trên nhãn hàng hóa hay tài liệu quảng bá. Các chủ thể phải bảo đảm thông tin công bố chính xác, trung thực và có hồ sơ chứng minh phù hợp.

Đáng lưu ý, việc sử dụng thông tin do nhà cung cấp cung cấp không đồng nghĩa với việc chủ thể trực tiếp thể hiện xuất xứ Việt Nam được miễn trừ trách nhiệm đối với thông tin mình công bố.

Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống lưu trữ hồ sơ có khả năng truy xuất, đối chiếu, bao gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, thông tin nhà cung cấp, mô tả quy trình sản xuất, chứng từ liên quan đến chi phí và các tài liệu chứng minh tiêu chí xuất xứ.

leftcenterrightdel
 Đại diện Cục Xuất nhập khẩu đã trình bày, hướng dẫn những nội dung trọng tâm của Nghị định số 384/2026/NĐ-CP. 

Minh bạch xuất xứ tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng Việt

Đánh giá về quy định mới, chị Lê Na, đại diện nhãn hàng ICEgel cho rằng, đây là bước tiến tích cực trong việc hoàn thiện khung pháp lý về quản lý xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam.

Theo chị Na, việc đưa ra các tiêu chí rõ ràng hơn để xác định xuất xứ Việt Nam sẽ góp phần hạn chế gian lận xuất xứ, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ uy tín hàng hóa Việt Nam trên thị trường.

Minh bạch nguồn gốc không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn là nền tảng xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Khi thông tin xuất xứ được thể hiện trung thực, rõ ràng và có căn cứ, người tiêu dùng sẽ có cơ sở tốt hơn để lựa chọn sản phẩm. Đồng thời, những doanh nghiệp đầu tư thực chất vào sản xuất, kinh doanh sẽ được bảo vệ trước sự cạnh tranh không lành mạnh.

Từ góc độ doanh nghiệp, chị Na cho rằng cần chủ động rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp đến quy trình sản xuất, gia công và hoàn thiện sản phẩm. Song song đó, phải lưu trữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ và hồ sơ chứng minh xuất xứ, bảo đảm mọi thông tin công bố trên nhãn hàng hóa và tài liệu liên quan đều trung thực, chính xác.

“Lợi ích lớn nhất là tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng và đối tác, đồng thời bảo vệ những doanh nghiệp đầu tư thực chất vào sản xuất và phát triển thương hiệu. Khi xuất xứ được xác định theo tiêu chí rõ ràng, doanh nghiệp có cơ sở để khẳng định giá trị sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững”, chị Na chia sẻ.

Đại diện nhãn hàng ICEgel cũng mong muốn cơ quan quản lý tiếp tục có hướng dẫn cụ thể theo từng ngành hàng, tăng cường tập huấn và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi gian lận xuất xứ để bảo đảm công bằng trên thị trường.

leftcenterrightdel
 Một trong những điểm mới của Nghị định số 384/2026/NĐ-CP.

Cùng quan điểm về việc cần chủ động chuẩn bị, bà Nguyễn Thị Nhung, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc thời trang tại TP Hồ Chí Minh cho biết, hội nghị đã cung cấp nhiều thông tin thiết thực, giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những yêu cầu khi xác định xuất xứ hàng hóa.

Theo bà Nhung, doanh nghiệp cần nhận thức rõ rằng hàng hóa được gia công, lắp ráp hoặc đóng gói tại Việt Nam không đồng nghĩa với việc sản phẩm đương nhiên có xuất xứ Việt Nam. Việc xác định phải căn cứ vào các tiêu chí cụ thể như chuyển đổi mã số HS, hàm lượng giá trị Việt Nam và các quy định liên quan đến công đoạn gia công, chế biến.

Đối với ngành may mặc, việc kiểm soát nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp và quy trình sản xuất càng cần được chú trọng. Doanh nghiệp phải có khả năng chứng minh quá trình hình thành sản phẩm, thay vì chỉ căn cứ vào địa điểm hoàn thiện hoặc đóng gói hàng hóa.

“Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng và quản lý hệ thống hồ sơ chứng minh xuất xứ ngay từ khâu nhập nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến khi đưa sản phẩm ra thị trường. Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, doanh nghiệp phải có đủ căn cứ để chứng minh hàng hóa đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam”, bà Nhung chia sẻ.

Theo bà Nhung, quản lý hồ sơ xuất xứ cần trở thành một phần thường xuyên trong quy trình quản trị sản xuất, kinh doanh. Đây không chỉ là giải pháp hạn chế rủi ro vi phạm mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao tính chuyên nghiệp, uy tín và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Chủ động chuẩn bị trước khi quy định có hiệu lực

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Do đó, khoảng thời gian từ nay đến thời điểm này là giai đoạn quan trọng để doanh nghiệp rà soát hoạt động sản xuất, kinh doanh và chuẩn bị các điều kiện cần thiết.

Trước hết, doanh nghiệp nên lập danh mục toàn bộ hàng hóa đang sản xuất, kinh doanh có nhu cầu thể hiện xuất xứ Việt Nam; đối chiếu từng sản phẩm với các tiêu chí xuất xứ tương ứng để xác định khả năng đáp ứng.

leftcenterrightdel
 Nghị định số 384/2026/NĐ-CP là bệ phóng cho hàng Việt.

Tiếp đó, cần rà soát nguồn nguyên liệu, hợp đồng với nhà cung cấp, quy trình gia công, sản xuất và các công đoạn hoàn thiện sản phẩm. Những thông tin chưa đầy đủ cần được bổ sung, đối chiếu để tránh tình trạng công bố xuất xứ khi chưa có căn cứ chứng minh.

Doanh nghiệp cũng cần phân công bộ phận chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ xuất xứ, phối hợp giữa các bộ phận mua hàng, sản xuất, kế toán, pháp chế và kinh doanh. Đối với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu hoặc thuê gia công một phần sản phẩm, cần tăng cường yêu cầu cung cấp chứng từ và thông tin từ các đối tác trong chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, cần phân biệt rõ quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước theo Nghị định số 384/2026/NĐ-CP với quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Nghị định số 31/2018/NĐ-CP và các hiệp định thương mại tự do. Việc đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo khuôn khổ này không mặc nhiên đồng nghĩa với việc đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan theo một FTA cụ thể.

Tại hội nghị, các đại biểu cũng đề nghị Bộ Công Thương, các bộ, ngành và địa phương tăng cường phối hợp với hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình triển khai quy định mới. Nhiều ý kiến tập trung đề xuất làm rõ phương pháp xác định xuất xứ, tiêu chí gia công, chế biến đơn giản, yếu tố trung gian và cơ chế hướng dẫn theo đặc thù từng lĩnh vực sản xuất.

Bà Trịnh Thị Thu Hiền cho biết, Cục Xuất nhập khẩu ghi nhận các ý kiến đóng góp, đề xuất của Sở Công Thương, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các dự thảo thông tư hướng dẫn, bảo đảm quy định khi ban hành phù hợp thực tiễn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Có thể thấy, việc hoàn thiện pháp luật về xuất xứ hàng hóa không đơn thuần là tăng cường công cụ quản lý nhà nước mà còn hướng đến xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất chân chính và quyền được thông tin của người tiêu dùng. Khi xuất xứ được xác định bằng những tiêu chí rõ ràng, có hồ sơ chứng minh và được kiểm soát trong toàn bộ chuỗi cung ứng, giá trị hàng Việt sẽ được khẳng định thực chất hơn, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Xuân Trường