Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 Nghị định bao gồm: Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025; Nghị định số 41/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam; Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10/2/2021 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025.
Trong đó, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về nguyên tắc giao khu vực biển; các trường hợp từ chối giao khu vực biển; thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển; trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị giao khu vực biển.
Cụ thể, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 4 như sau: Trong một vùng biển có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích sử dụng nhưng không được mâu thuẫn với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đang được phép tiến hành. Trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Trường hợp có sự chồng lấn, trùng nhau về vị trí, phạm vi khu vực biển đề nghị giao thì giải quyết hồ sơ của tổ chức, cá nhân nộp trước đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, được thể hiện trên Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5a như sau:
Phạm vi khu vực biển đề nghị sử dụng nằm trong các khu vực biển dưới đây, trừ trường hợp các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý hoặc pháp luật quy định cho phép tổ chức, cá nhân được thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển tại các khu vực này: Khu vực sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh; Khu vực bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Khu vực thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; khu vực có rừng đặc dụng đã được công bố theo quy định của pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học, lâm nghiệp.
Khu vực thuộc khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản.
Khu vực có hệ sinh thái cỏ biển, rạn san hô thuộc khu vực cần bảo vệ đặc biệt được xác định trong Quy hoạch không gian biển quốc gia.
Khu vực có công trình dầu khí, thiết bị và công trình trên biển, vùng an toàn xung quanh các công trình này và các khu vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, công nhận khu vực biển.
Mặt khác, Nghị định 44/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 8 về thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển.
Theo quy định, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp sau đây:
Khu vực biển có phạm vi nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển cấp tỉnh; khu vực biển liên vùng.
Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp sau đây:
Khu vực biển nằm trong ranh giới quản lý hành chính trên biển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp xã có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển đối với cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 có phạm vi nằm trong vùng biển 3 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc các đảo. Hạn mức giao khu vực biển quy định tại khoản này không quá 5 ha.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP quy định rõ, trường hợp chưa xác định được ranh giới quản lý hành chính trên biển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển thực hiện như sau:
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển có phạm vi toàn bộ hoặc một phần nằm ngoài vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi toàn bộ hoặc một phần nằm ngoài vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đảo lớn nhất của các đặc khu.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đảo lớn nhất của các đặc khu; khu vực biển để nuôi trồng thủy sản có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của các đảo.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có biển có trách nhiệm gửi quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Chủ tịch UBND cấp xã có biển có trách nhiệm gửi quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển về Sở Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP gồm 4 chương 47 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/1/2026.