Nghị định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 30, các khoản 1, 3 và 4 Điều 42 Luật Phục hồi, phá sản về các nội dung gồm:
Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.
Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
Việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
Việc chuyển nhượng đồng bộ tài sản, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ mảng kinh doanh, hoạt động kinh doanh; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
Đối tượng áp dụng gồm: Doanh nghiệp là đối tượng của vụ việc phục hồi, phá sản; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã) là đối tượng của vụ việc phục hồi, phá sản; Cơ quan đăng ký kinh doanh; Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (sau đây gọi là cơ quan đại diện chủ sở hữu); Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước đồng thời là người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước không có khả năng điều hành doanh nghiệp theo đánh giá của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy định của pháp luật về quản lý người giữ chức danh, chức vụ, người đại diện phần vốn nhà nước.
Trường hợp khác do Thẩm phán quyết định.
Mặt khác, Nghị định cũng quy định về thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Phục hồi, phá sản.
    |
 |
| Ảnh minh hoạ. (Nguồn: TTXVN) |
Cụ thể: Trong quá trình giám sát doanh nghiệp có vốn nhà nước sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, trường hợp xét thấy người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không có khả năng điều hành doanh nghiệp theo quy định tại Điều 3 Nghị định này hoặc doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 31 Luật Phục hồi, phá sản thì Ban đại diện chủ nợ; Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24 Luật Phục hồi, phá sản; cơ quan đại diện chủ sở hữu có văn bản gửi Thẩm phán đề nghị xem xét, quyết định lựa chọn người khác là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Trong đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu có ý kiến đề nghị gửi Thẩm phán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này.
Trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu nhận được văn bản của Thẩm phán đề nghị có ý kiến về việc lựa chọn người khác (đã có dự kiến cá nhân cụ thể) là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Phục hồi, phá sản thì trong thời hạn nêu tại văn bản hoặc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đối với trường hợp văn bản không yêu cầu thời hạn trả lời, căn cứ quy định của pháp luật về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và điều lệ doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu đề xuất người đại diện phần vốn theo các quy định dưới đây:
Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, cơ quan đại diện chủ sở hữu đề nghị Thẩm phán lựa chọn người đại diện theo pháp luật trong nhóm người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp hoặc đề xuất lựa chọn người khác trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù khác (nếu có).
Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ dưới 100% vốn điều lệ và người đại diện theo pháp luật hiện tại của doanh nghiệp là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu theo thẩm quyền đề xuất lựa chọn người khác trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy định pháp luật về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù khác (nếu có).
Trường hợp người đại diện theo pháp luật hiện tại của doanh nghiệp không phải là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, căn cứ tình hình thực tế tại doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu theo thẩm quyền có thể xem xét để có ý kiến gửi Thẩm phán.
Trường hợp văn bản đề nghị quy định tại khoản 2 Điều này không đề xuất cá nhân cụ thể mà đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu có ý kiến đề xuất thì trong thời hạn nêu tại văn bản hoặc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đối với trường hợp văn bản không yêu cầu thời hạn trả lời, cơ quan đại diện chủ sở hữu có ý kiến đề xuất gửi Thẩm phán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này.
Trường hợp Thẩm phán quyết định lựa chọn người khác là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước mà không có văn bản đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu có ý kiến trước khi ra quyết định, cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm thực hiện quyết định của Thẩm phán.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm quản lý người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã được cho thôi làm người đại diện theo pháp luật theo quy định của pháp luật về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện thủ tục phục hồi, trường hợp xét thấy cần thiết, sau khi Thẩm phán có quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật, cơ quan đại diện chủ sở hữu theo thẩm quyền xem xét việc thực hiện quyền của chủ sở hữu theo khoản 2 Điều 30 Luật Phục hồi, phá sản.
Nghị định này gồm 10 điều, có hiệu lực từ ngày 27/5/2026.