Nghị định này quy định chi tiết Luật Hàng không dân dụng Việt Nam về hoạt động bay bao gồm: quy định chi tiết các Điều 39, 40, 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48; khoản 3 Điều 61; điểm c, điểm k khoản 1 Điều 99; khoản 3 Điều 103 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến hoạt động bay trong lãnh thổ Việt Nam và trong vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý.
Hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng trong khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay
Về hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng trong khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, Nghị định quy định: Tàu bay dân dụng hoạt động trong khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay phải tuân thủ huấn lệnh của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu và tuân thủ các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền quản lý vùng trời.
Tàu bay dân dụng vi phạm khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay bị xử lý theo quy định của pháp luật; trường hợp cần thiết có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc hạ cánh theo quy định tại Mục 6 Chương V của Nghị định này.
Hoạt động bay dân dụng trong khu vực hạn chế bay chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện cụ thể áp dụng đối với khu vực đó.
Hoạt động của tàu bay dân dụng, điều kiện hoạt động cụ thể trong khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Về khai thác, sử dụng vùng trời, theo Nghị định: Việc phối hợp sử dụng vùng trời giữa hoạt động bay dân dụng và lực lượng vũ trang được thực hiện theo nguyên tắc sử dụng vùng trời linh hoạt.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an xây dựng quy chế, quy trình phối hợp và cơ chế lập, công bố kế hoạch sử dụng vùng trời, kế hoạch sử dụng vùng trời cập nhật để thực hiện sử dụng vùng trời linh hoạt.
Trung tâm Quản lý điều hành bay quốc gia và Trung tâm quản lý luồng không lưu có trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin kịp thời trong trường hợp hoạt động của khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, khu vực nguy hiểm hoặc khu vực tương ứng tạm thời kết thúc sớm, thu hẹp phạm vi hoặc không thực hiện.
Cấu trúc vùng trời linh hoạt bao gồm đường hàng không, đường hàng không có điều kiện, đường bay quân sự, khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, khu vực nguy hiểm và các khu vực tương ứng tạm thời.
Các lý do từ chối cấp phép bay
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định về từ chối cấp phép bay. Theo đó, cơ quan cấp phép bay từ chối cấp phép bay vì lý do sau đây: An ninh, quốc phòng; an toàn, an ninh của chuyến bay; trật tự và lợi ích công cộng; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; theo quy định của các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Người đề nghị cấp phép bay: Cung cấp thông tin không trung thực; thực hiện chuyến bay không đúng theo nội dung phép bay; không thanh toán đầy đủ các loại giá, giá dịch vụ điều hành bay đi, đến, giá dịch vụ điều hành bay qua vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý và các loại phí, lệ phí khác theo quy định hoặc có những hành vi lừa dối khác.
Quyền ưu tiên trong khi bay và khi hoạt động tại khu vực di chuyển của sân bay
Về quyền ưu tiên trong khi bay và khi hoạt động tại khu vực di chuyển của sân bay, Nghị định quy định: Tàu bay có quyền ưu tiên phải giữ hướng bay và tốc độ bay, trừ khi việc thay đổi là bắt buộc để tránh va chạm.
Tàu bay nhường đường phải tránh đi qua phía trên, phía dưới hoặc cắt ngang trước đầu tàu bay được quyền ưu tiên, trừ trường hợp việc đó được thực hiện ở khoảng cách an toàn và không gây nguy cơ va chạm.
Quyền ưu tiên giữa các tàu bay đang bay được xác định theo thứ tự sau đây: khí cầu; tàu lượn; tàu bay đang kéo tàu bay khác hoặc vật thể khác; tàu bay điều khiển bằng động cơ.
Khi hai tàu bay cùng loại đang hội tụ ở cùng độ cao, tàu bay nào thấy có tàu bay kia ở phía bên phải mình thì phải nhường đường.
Khi hai tàu bay đối đầu hoặc gần đối đầu có nguy cơ va chạm, mỗi tàu bay phải đổi hướng sang bên phải.
Tàu bay đang thực hiện vượt tàu bay khác phải tránh sang bên phải tàu bay bị vượt và tiếp tục giữ khoảng cách an toàn cho đến khi vượt hẳn và không còn khả năng gây ảnh hưởng đến tàu bay bị vượt.
Tàu bay đang hạ cánh hoặc ở giai đoạn tiếp cận chót để hạ cánh có quyền ưu tiên hơn các tàu bay khác đang bay hoặc đang hoạt động tại khu vực di chuyển của sân bay.
Khi hai hoặc nhiều tàu bay nặng hơn không khí cùng tiếp cận để hạ cánh, tàu bay ở độ cao cao hơn phải nhường đường cho tàu bay ở độ cao thấp hơn; tàu bay ở độ cao thấp hơn không được lợi dụng quyền ưu tiên này để cắt qua trước đầu tàu bay khác đang ở giai đoạn tiếp cận chót hoặc vượt tàu bay đó.
Tàu bay đang di chuyển trong khu vực di chuyển tại sân bay phải dừng tại vị trí dừng chờ đường cất hạ cánh khi có yêu cầu của cơ sở ATS hoặc khi đèn dừng chờ đang bật.
Tàu bay, phương tiện và người hoạt động trong khu vực di chuyển tại sân bay phải tuân thủ chỉ dẫn của cơ quan có thẩm quyền và của cơ sở ATS có liên quan.
Nghị định gồm 12 chương, 140 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.