Đại diện trong thi hành án dân sự

Nghị định gồm 5 chương, 116 điều quy định chi tiết một số điều, khoản và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm tài chính từ ngân sách để thi hành án, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự. 

Về đại diện trong thi hành án dân sự, Nghị định nêu rõ: Người đại diện cho đương sự trong thi hành án dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, ghi rõ phạm vi, thời hạn và nội dung ủy quyền trong giai đoạn thi hành án dân sự, có công chứng hoặc chứng thực; trường hợp việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp ủy quyền của pháp nhân thì văn bản ủy quyền phải do người đại diện hợp pháp ký và đóng dấu của pháp nhân đó; trường hợp đương sự đang chấp hành hình phạt tù thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Từ thời điểm nhận được văn bản uỷ quyền, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thực hiện thông báo, các thủ tục thi hành án, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, phản ánh về vụ việc đang được thi hành án với người đại diện theo nội dung, thời hạn, phạm vi ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Khi chấm dứt hoặc thay đổi việc ủy quyền trước thời hạn ủy quyền thì người ủy quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp đương sự ủy quyền cho nhiều người về cùng một nội dung thì cơ quan thi hành án dân sự hướng dẫn đương sự xác định người được ủy quyền làm việc với cơ quan thi hành án dân sự theo khoản 2 Điều này; trường hợp đương sự không xác định người được ủy quyền thì cơ quan thi hành án dân sự làm việc với một trong số những người được ủy quyền.

Việc ủy quyền khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Xác minh điều kiện thi hành án

Về xác minh điều kiện thi hành án, Nghị định quy định: Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên xác minh cụ thể thông tin về tài sản, thu nhập; số định danh cá nhân, tình trạng hôn nhân; số định danh của cơ quan, tổ chức, mã số doanh nghiệp, hợp tác xã; trụ sở, nơi thường trú, nơi tạm trú, nơi ở hiện tại và các thông tin cần thiết khác về điều kiện thi hành án.

leftcenterrightdel
 VKSND Khu vực 16, TP Hồ Chí Minh tăng cường kiểm sát cưỡng chế, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự. (Ảnh minh hoạ)

Việc xác minh trên môi trường số được thực hiện thông qua nền tảng số thi hành án dân sự, cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối với các Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật.

Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng; tài sản mà pháp luật quy định về điều kiện chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền có ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; điều kiện thực hiện quyền của người sở hữu, sử dụng tài sản và điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng tài sản.

Đối với tài sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc tài sản khác mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan quản lý đất đai, cơ quan khác có thẩm quyền có ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản.

Khi xác minh trực tiếp tại UBND cấp xã thì đơn vị, tổ chức chuyên môn, công chức thuộc UBND cấp xã và cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên, chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp và ký, đóng dấu của UBND cấp xã hoặc của đơn vị, tổ chức vào biên bản xác minh.

Khi có thông tin về việc người phải thi hành án mở tài khoản, gửi tiền, tài sản gửi giữ khác tại Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì Chấp hành viên có văn bản gửi cơ quan, tổ chức đó để đề nghị cung cấp thông tin. Cơ quan, tổ chức được đề nghị phải cung cấp ngay thông tin theo yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp.

Khi xác minh tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cho sử dụng lối đi qua hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Khi xác minh điều kiện thi hành án đối với đương sự đang chấp hành hình phạt tù, Chấp hành viên có thể xác minh trực tiếp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù hoặc cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cung cấp thông tin. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù phải ký, đóng dấu của cơ quan, đơn vị vào biên bản xác minh hoặc có văn bản cung cấp thông tin trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp.

Việc ủy quyền xác minh của cơ quan thi hành án dân sự phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung ủy quyền và nội dung cần thiết khác. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy quyền phải chịu trách nhiệm về kết quả xác minh theo nội dung ủy quyền, trả lời bằng văn bản về kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền trong thời hạn sau đây:

Đối với việc xác minh tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì thời hạn trả lời kết quả xác minh không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được ủy quyền. Trường hợp khó khăn, phức tạp thì thời hạn trả lời kết quả xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được ủy quyền.

Đối với việc xác minh các loại tài sản và thông tin khác thì thời hạn trả lời kết quả xác minh không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được ủy quyền.

Đối với thông tin về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải trả lời kết quả xác minh ngay.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin: Bảo đảm các thông tin cung cấp phải trung thực, đầy đủ, chính xác về nội dung và phù hợp với yêu cầu xác minh. Trường hợp từ chối hoặc không thể đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin thì bên nhận yêu cầu phải có văn bản thông báo nêu rõ lý do cho bên yêu cầu trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Bảo mật việc cung cấp thông tin và nội dung cung cấp thông tin để ngăn chặn các hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Lưu trữ hồ sơ liên quan đến việc cung cấp thông tin, bao gồm: văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, văn bản cung cấp thông tin, tài liệu khác liên quan đến việc cung cấp thông tin.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP và Nghị định số 152/2024/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Điều khoản chuyển tiếp: Đối với các việc thi hành án đã thi hành một phần hoặc chưa thi hành xong trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì kết quả thi hành án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị định này.

Việc thực hiện thủ tục về thi hành án trên môi trường số theo quy định của Nghị định này được thực hiện ngay khi có đủ điều kiện và được Bộ Tư pháp công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Về môi trường số trong thi hành án dân sự, theo Nghị định quy định, các phương tiện thực hiện trên môi trường số trong thi hành án dân sự bao gồm: Nền tảng số thi hành án dân sự; Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp; Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự; Thư điện tử và phương tiện khác theo quy định của pháp luật. Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan thi hành án dân sự sử dụng một hoặc nhiều phương tiện nêu trên.

P.V