Cùng với Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị Về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội Về phát triển văn hóa Việt Nam; dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035, trên cơ sở hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan.
    |
 |
| Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, ngày 24/8/2026. Ảnh: CTTĐT Quốc hội |
Chương trình hướng tới nâng cao đời sống tinh thần, mở rộng cơ hội tiếp cận và thụ hưởng văn hóa, thu hẹp chênh lệch vùng miền, đồng thời huy động cộng đồng tham gia bảo vệ, phát huy di sản. Đây là một thành quả lập pháp quan trọng trong quá trình Quốc hội, Chính phủ thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng.
Rối nước Đào Thục vẫn thường xuyên biểu diễn, tiếp đón du khách trong và ngoài nước
Xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội) là một trong 2 xã đầu tiên của cả nước nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng được lựa chọn để triển khai thực hiện mô hình xã Xã hội chủ nghĩa. ThS. Phạm Trọng La, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thư Lâm, cho biết: Thư Lâm là xã có nguồn lực văn hóa phong phú, đa dạng được hình thành, bồi đắp qua nhiều thế hệ, đặc trưng nổi bật là những giá trị văn hoá truyền thống thuộc vùng Kinh Bắc xưa.
    |
 |
| ThS. Phạm Trọng La, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Ảnh gốc: thanglong.chinhphu.vn |
Toàn xã Thư Lâm hiện có 96 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó 25 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 18 di tích được xếp hạng cấp thành phố; 3 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 31 lễ hội truyền thống và 13 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Nổi bật nhất là các loại hình nghệ thuật truyền thống như: Rối nước Đào Thục, Ca trù Lỗ Khê, tuồng, chèo,…
Sự phong phú về văn hoá tạo cho Thư Lâm một nền tảng phát triển có chiều sâu, vừa có giá trị bảo tồn, giáo dục truyền thống, vừa tạo nguồn lực để phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Từ thực tiễn địa phương, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thư Lâm Phạm Trọng La cho biết, thực tế, một số nguồn lực văn hóa của Thư Lâm đã và đang tham gia vào các hoạt động du lịch, giáo dục và dịch vụ. Rối nước Đào Thục thường xuyên biểu diễn, tiếp đón du khách trong và ngoài nước; làng nghề Thiết Úng phát triển hoạt động tham quan, trải nghiệm làng nghề và giới thiệu sản phẩm; Đền Sái có sức hút đối với khách tham quan, nghiên cứu về lịch sử và du lịch văn hóa. Đây là điều kiện để xã Thư Lâm từng bước tổ chức khai thác các giá trị văn hóa theo hướng có sản phẩm và có điểm đến rõ ràng hơn.
    |
 |
| Rối nước Đào Thục thường xuyên biểu diễn, tiếp đón du khách trong và ngoài nước. Ảnh: Phạm Sỹ |
“Từ thực tiễn triển khai tại Thư Lâm, tôi nhận thấy vấn đề hiện nay không phải là thiếu nguồn lực văn hóa, mà là làm thế nào để tổ chức tốt hơn những nguồn lực đang có, chuyển các giá trị văn hóa thành sản phẩm, hoạt động và giá trị cụ thể, tạo lợi ích thiết thực cho cộng đồng mà vẫn bảo đảm yêu cầu bảo tồn”, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thư Lâm Phạm Trọng La chia sẻ.
Để hiện thực hoá mục tiêu xây dựng văn hoá thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, xã Thư Lâm xác định những mục tiêu, giải pháp trọng tâm cụ thể như sau: Tập trung nhiệm vụ, nguồn lực và tổ chức thực hiện; hoàn thiện mô hình “Một ngày trải nghiệm di sản Thư Lâm”; tập trung các mô hình đã có sẵn để hình thành hệ thống sản phẩm văn hoá đặc trưng của Thư Lâm; chú trọng quan tâm đến các nghệ nhân, người thực hành và lớp kế cận; số hóa di sản gắn với yêu cầu quản lý và phát huy giá trị; mở rộng sự tham gia của xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản.(1)
Xã Đa Phúc và những trăn trở về “Bản đồ tài nguyên văn hóa”
ThS. Đỗ Thu Nga, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Đa Phúc (thành phố Hà Nội), cho biết trên địa bàn xã có 92 di tích; trong đó 6 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, 17 di tích cấp Thành phố và 69 di tích chưa xếp hạng. Quy mô này cho thấy Đa Phúc có mật độ di sản đáng kể, đồng thời đặt ra sức ép rất cụ thể về bảo tồn và lựa chọn thứ tự ưu tiên đầu tư.
    |
 |
| ThS. Đỗ Thu Nga, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Đa Phúc, thành phố Hà Nội. Ảnh gốc: Xã Đa Phúc |
Các giá trị phi vật thể cũng khá phong phú. Xã Đa Phúc có 17 di sản văn hóa phi vật thể; 11 lễ hội tổ chức vào dịp đầu Xuân; 16/19 thôn có lễ hội thờ Đức Thánh Tam Giang. Nghi lễ Kéo Mỏ tại thôn Xuân Lai là một thực hành thuộc di sản “Nghi lễ và Trò chơi Kéo co” được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2015.
Một số mô hình mới của xã cho thấy khả năng kết nối văn hóa với giáo dục, du lịch và công nghệ. Năm 2026, các chương trình, sự kiện và hoạt động du lịch trên địa bàn xã Đa Phúc ước thu hút khoảng 18.000 lượt khách; riêng “Du lịch xanh Đa Phúc - River Camping” trong hai ngày 24-25/01/2026 thu hút khoảng 15.000 lượt người. Xã đã xác định 5 điểm, cụm di tích có khả năng đón khách; “Đa Phúc Tour” có trên 3.000 người sử dụng và 4 di tích đã được gắn mã QR. Đây là những bước đầu cho thấy khả năng mở rộng giá trị của di sản khi được kết nối với giáo dục, trải nghiệm và công nghệ.
Tuy nhiên, ThS. Đỗ Thu Nga cho rằng, bên cạnh những ưu điểm, vẫn còn những điểm vướng từ thực tiễn. Theo đó, dữ liệu văn hóa hiện cũng chưa tạo thành một hệ thống đầy đủ để phục vụ công tác quản lý và ra quyết định.
Về giải pháp, theo ThS. Đỗ Thu Nga, trước hết, cần hoàn thiện “Bản đồ tài nguyên văn hóa Đa Phúc” và cơ sở dữ liệu dùng chung. Mỗi di tích, lễ hội, nghệ nhân, câu lạc bộ, nghề, món ăn, câu chuyện lịch sử và điểm trải nghiệm nên có hồ sơ tối thiểu về vị trí, tình trạng, giá trị, chủ thể quản lý hoặc thực hành và tư liệu số.
Cùng với đó, dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên và sử dụng chung cho quản lý, quy hoạch, giáo dục, du lịch, truyền thông. Từ đó, xã mới có cơ sở xác định nơi nào cần ưu tiên tu bổ, điểm nào phù hợp phát triển sản phẩm, nội dung nào cần số hóa trước. Hướng đi này phù hợp yêu cầu xây dựng bản đồ số văn hóa của Nghị quyết 80-NQ/TW….(2)
Đề xuất xây dựng chiến lược phát triển an ninh văn hóa gắn liền với an ninh quốc gia
Không gian số và hội nhập quốc tế đem lại cơ hội tiếp cận tri thức, nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin xấu độc, văn hóa phẩm độc hại, giả mạo, xuyên tạc lịch sử và những nội dung lệch chuẩn đạo đức. Vì thế, bảo vệ an ninh văn hóa và nền tảng tư tưởng đòi hỏi phương thức ứng phó chủ động, kết hợp công cụ quản lý, kỹ thuật với nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người sử dụng.
Theo Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an, để triết lý “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” thực sự thấm sâu vào đời sống, phát huy sức mạnh và góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã đề ra, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã và đang quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đột phá, đồng bộ.
    |
 |
| Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an. Ảnh gốc: CTTĐT Quốc hội |
Từ vị trí, vai trò rất đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển đất nước và thực tiễn công tác bảo vệ an ninh quốc gia, Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, Bộ Công an đề xuất một số định hướng mang tính chiến lược nhằm phát huy tối đa sức mạnh văn hóa phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới: Xây dựng chiến lược phát triển an ninh văn hóa gắn liền với an ninh quốc gia; Đẩy mạnh số hóa và phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam; Hoàn thiện thể chế pháp lý về văn hóa trong kỷ nguyên mới.(3)
Ở góc độ địa phương, ThS. Đại tá Lục Thế Hưng, Phó Giám đốc Công an tỉnh Tuyên Quang, cho rằng, từ việc phát huy vai trò của lực lượng công an cơ sở trong bảo đảm an ninh văn hóa đã đạt được một số kết quả nổi bật, như: công tác nắm tình hình ở cơ sở ngày càng chủ động, sát thực tế, từ đó chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương các chủ trương, biện pháp phát triển văn hóa; bảo đảm an ninh, trật tự trên lĩnh vực văn hóa… Nhiều vụ việc liên quan đến văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo được phát hiện ngay tại địa bàn cơ sở và giải quyết kịp thời.
    |
 |
| ThS. Đại tá Lục Thế Hưng, Phó Giám đốc Công an tỉnh Tuyên Quang. Ảnh gốc: CA Tuyên Quang |
“Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với các phong trào văn hóa ở địa phương tiếp tục được củng cố, phát triển. Thông qua việc xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, xã, phường đạt chuẩn văn hóa, nhiều địa phương đã hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội. Các hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng được phát triển phong phú không chỉ nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân mà còn tạo điều kiện củng cố mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng, qua đó góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở”, Đại tá Lục Thế Hưng chia sẻ.(4)
Chuyển đổi số đang mở thêm cách thức lưu giữ, quản lý và giới thiệu di sản, đồng thời tạo điều kiện hình thành sản phẩm văn hóa mới. Theo TS. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Bộ Công an), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị yêu cầu triển khai phương thức quản trị văn hóa hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong giám sát, định hướng nội dung văn hóa trực tuyến, xây dựng và khai thác hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, tăng cường ứng dụng AI và Big Data, bảo vệ an ninh văn hóa trên mạng và chủ quyền văn hóa số.
    |
 |
| TS. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an. Ảnh gốc: Báo điện tử Chính phủ |
“Hệ điều hành văn hóa số” là khung năng lực quản trị tích hợp ở tầm quốc gia, vận hành trên dữ liệu liên thông, công cụ AI và Big Data, tiêu chuẩn và quy trình nghiệp vụ, tri thức chuyên gia và cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện chu trình: quan sát - phân tích - cảnh báo - kiểm chứng - hỗ trợ quyết định - phản hồi, học hỏi.
Theo TS. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, nếu xác định đúng vai trò, đúng dữ liệu và đúng quy trình, “Hệ điều hành văn hóa số” có thể trở thành năng lực dùng chung quan trọng: vừa hỗ trợ bảo vệ an ninh văn hóa, chủ quyền văn hóa số và niềm tin xã hội; vừa giúp nhận diện, nuôi dưỡng và lan tỏa các giá trị tích cực của văn hóa Việt Nam. Tầm nhìn dài hạn không phải “điều khiển văn hóa”, mà là tạo năng lực quản trị đủ nhạy để phát hiện sớm, đủ sâu để hiểu đúng và đủ trách nhiệm để hành động đúng trong kỷ nguyên số.(5)
Kiến nghị một số giải pháp tổng thể, dài hạn
Chia sẻ quan điểm về vấn đề đột phá tư duy phát huy sức mạnh văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, cùng với việc đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ, PGS.TS Nguyễn Tấn Vinh, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II và TS Nguyễn Thị Kim Liên, Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị khu vực II, cho rằng, đột phá về cơ chế tài chính, tín dụng và khơi thông nguồn vốn thông qua hợp tác công - tư (PPP) là một trong những giải pháp rất quan trọng.
    |
 |
| PGS.TS Nguyễn Tấn Vinh, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II. Ảnh gốc: dangcongsan.org.vn |
Theo đó, cần huy động tối đa các nguồn lực xã hội, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực tư nhân là động lực quan trọng. Đột phá mô hình PPP trong lĩnh vực văn hóa: Thể chế hóa và áp dụng các mô hình: “đầu tư công - quản lý tư”, “lãnh đạo công - quản trị tư” và “đầu tư tư - sử dụng công” đối với các thiết chế văn hóa, bảo tàng, nhà hát và khu di tích lịch sử…(6)
Còn theo GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng Di sản văn hoá Quốc gia cho rằng, yêu cầu đầu tiên là vượt qua cách tư duy giản đơn coi kinh tế là “cái có trước”, còn văn hóa là “cái đi sau”.
Theo ông, quan hệ giữa hai lĩnh vực cần được nhận thức theo hướng tương tác và đồng kiến tạo. Kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất để đầu tư cho giáo dục, khoa học, văn hóa và an sinh xã hội. Nhưng văn hóa lại góp phần tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực, niềm tin xã hội, đạo đức kinh doanh, tinh thần sáng tạo và khả năng hợp tác. Đây là những yếu tố quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực kinh tế.
    |
 |
| GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng Di sản văn hoá Quốc gia. Ảnh gốc: Báo Đại đoàn kết |
“Theo hướng này có thể coi kinh tế và văn hóa là hai hệ thống nguồn lực tương tác, cùng tạo nên năng lực phát triển quốc gia. Đây cũng là điểm có thể kết nối hai nghị quyết 79 và 80. Nghị quyết 79-NQ/TW tập trung vào phát triển kinh tế nhà nước, sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực Nhà nước; trong khi Nghị quyết 80-NQ/TW xác định văn hóa và con người là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của phát triển. Cần chuyển từ tư duy “kinh tế và văn hóa” sang tư duy “kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế” và phải xây dựng hệ sinh thái kinh tế - văn hóa”, GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang phân tích và cho rằng, đây là giải pháp có tính nền tảng.
Theo ông, Nghị quyết 80-NQ/TW đã đặt mục tiêu đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa và nghệ thuật sáng tạo, xây dựng các tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo dựa trên nền tảng công nghệ cao và mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.
“Điều này cho thấy công nghiệp văn hóa không còn được đặt ở vị trí ngoại vi của nền kinh tế mà đang được tiếp cận như một bộ phận của mô hình tăng trưởng mới”, GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang khẳng định.(7)
Theo PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, giải pháp về phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam phải tác động vào toàn bộ chuỗi chuyển hóa từ giá trị thành hành động: hoàn thiện thể chế; xây dựng môi trường; nâng cao năng lực; tổ chức thị trường; thiết lập trách nhiệm giải trình.
    |
 |
| PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh gốc: HVCTQGHCM |
PGS.TS Đoàn Minh Huấn đề xuất 6 nhóm giải pháp vừa xử lý điểm nghẽn, vừa kiến tạo năng lực lâu dài: Hoàn thiện thể chế, đưa văn hóa trở thành tiêu chí thực chất trong quản trị phát triển; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, trước hết trong Đảng, hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nâng cao năng lực con người, trọng dụng nhân tài và phát huy vai trò của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cán bộ; Tổ chức chuỗi giá trị để gắn sáng tạo với bảo tồn và sinh kế bền vững; Phát triển năng lực bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số; Bảo đảm dịch vụ văn hóa thiết yếu và công bằng về cơ hội phát triển
PGS.TS Đoàn Minh Huấn cho rằng, giá trị văn hóa không tự chuyển thành sức mạnh phát triển; khâu quyết định là năng lực thể chế hóa và tổ chức thực hiện để giá trị đi vào chuẩn mực, hành vi, kết quả. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách về thể chế, thực hành giá trị và phát huy tiềm năng con người phải là trục xuyên suốt. Khi các chủ thể cùng hành động và chịu trách nhiệm về kết quả, sức mạnh con người Việt Nam sẽ được giải phóng cho phát triển nhanh, bền vững, tự chủ, phồn vinh, hạnh phúc.
“Điều đó đòi hỏi chủ trương được lượng hóa bằng mục tiêu, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm; mỗi chính sách được kiểm chứng bằng sự tham gia, thụ hưởng và sáng tạo của nhân dân. Đồng thời, cần xây dựng môi trường lành mạnh, đề cao nêu gương, bảo vệ người đổi mới, bảo đảm cơ hội công bằng. Khi văn hóa trở thành nguyên tắc quản trị, phẩm chất công dân và động lực sáng tạo, đất nước sẽ có nội lực để làm chủ công nghệ, bảo vệ bản sắc, khẳng định vị thế quốc gia”, PGS.TS Đoàn Minh Huấn phân tích.(8)
Thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội đòi hỏi sự phối hợp thực chất của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thiết nghĩ, thể chế phải khơi thông sáng tạo; nguồn lực cần được phân bổ theo ưu tiên và kết quả; nhân lực phải được đào tạo, trọng dụng; dữ liệu số phải kết nối, an toàn và hữu ích; an ninh văn hóa tư tưởng phải được vun đắp từ cơ sở, được bảo vệ trên mọi mặt trận, bắt đầu bằng năng lực nhận thức và trách nhiệm của từng công dân trong kỷ nguyên mới…
Nhóm PV
Danh mục tài liệu tham khảo và nguồn trích dẫn:
Tài liệu tham khảo:
(1): ThS. Phạm Trọng La: PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP TỪ XÃ THƯ LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(2): ThS. Đỗ Thu Nga: KHAI THÔNG NGUỒN LỰC VĂN HÓA, KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN TỪ CƠ SỞ; NHỮNG GỢI MỞ TỪ THỰC TIỄN XÃ ĐA PHÚC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(3): Đại tướng Lương Tam Quang: “VĂN HÓA SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI” - TƯ DUY CHIẾN LƯỢC VÀ TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
(4): ThS. Đại tá Lục Thế Hưng: PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM AN NINH VĂN HÓA TỪ CƠ SỞ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
(5): TS. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: XÂY DỰNG “HỆ ĐIỀU HÀNH VĂN HÓA SỐ” VIỆT NAM: PHÁT HUY HẠ TẦNG DỮ LIỆU QUỐC GIA, DỮ LIỆU VĂN HÓA, AI VÀ BIG DATA TRONG GIÁM SÁT, CẢNH BÁO SỚM AN NINH VĂN HÓA
(6): PGS.TS Nguyễn Tấn Vinh; TS. Nguyễn Thị Kim Liên: ĐỘT PHÁ TƯ DUY VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI: TỪ BẢO TỒN GIÁ TRỊ ĐẾN KIẾN TẠO NGUỒN LỰC VÀ SỨC MẠNH PHÁT TRIỂN QUỐC GIA
(7): GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN QUỐC GIA - TỪ NGHỊ QUYẾT 79-NQ/TW ĐẾN NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW
(8): PGS.TS Đoàn Minh Huấn: PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM: TỪ NGUỒN LỰC NỘI SINH ĐẾN ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề: “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Bộ Công an, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, năm 2026.