Về phạm vi điều chỉnh: Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 và khoản 3 Điều 22, Điều 24, Điều 25, khoản 2 Điều 38, Điều 39, Điều 44, Điều 49, Điều 55, Điều 58, Điều 60, Điều 68, Điều 70, Điều 72, khoản 1 Điều 88 của Luật Phục hồi, phá sản.

Về thành lập Ban đại diện chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Phục hồi, phá sản, Nghị quyết hướng dẫn:

1. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án xem xét, quyết định việc thành lập hoặc không thành lập Ban đại diện chủ nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Phục hồi, phá sản.

Tòa án không thành lập Ban đại diện chủ nợ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

a) Vụ việc phục hồi, phá sản được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

b) Chủ nợ đại diện cho từ 65% tổng số nợ trở lên tại thời điểm thành lập Ban đại diện chủ nợ có văn bản đề nghị không thành lập.

c) Vụ việc phục hồi, phá sản có từ 5 chủ nợ trở xuống.

2. Ban đại diện chủ nợ trong vụ việc phục hồi, phá sản được chọn trong số các chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, chủ nợ không có bảo đảm. 

3. Ban đại diện chủ nợ có 3 hoặc 5 thành viên gồm chủ nợ có số nợ lớn, chủ nợ đại diện cho nhóm chủ nợ có số nợ lớn của doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập theo quyết định của Tòa án.

a) Chủ nợ có số nợ lớn là một trong số các chủ nợ có số nợ lớn nhất được sắp xếp theo thứ tự có số nợ từ cao xuống thấp trong danh sách chủ nợ, nhóm chủ nợ.

b) Nhóm chủ nợ là tập hợp từ hai chủ nợ trở lên cùng thống nhất bằng văn bản lập thành nhóm chủ nợ và cử 1 chủ nợ đại diện cho nhóm chủ nợ đó.

c) Nhóm chủ nợ có số nợ lớn là một trong số các nhóm chủ nợ có tổng số nợ của các chủ nợ trong nhóm lớn nhất được sắp xếp theo thứ tự có số nợ từ cao xuống thấp trong danh sách chủ nợ, nhóm chủ nợ.

4. Các thành viên Ban đại diện chủ nợ bầu 1 Trưởng ban và 1 Phó Trưởng ban. Ban đại diện chủ nợ xem xét, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. 

leftcenterrightdel
 Lãnh đạo TAND tối cao giới thiệu về những điểm mới quan trọng của Luật Phục hồi, phá sản tại buổi họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. (Ảnh minh hoạ)

Về áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn quy định tại Điều 68 của Luật Phục hồi, phá sản, theo Nghị quyết số 02 hướng dẫn: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc có trách nhiệm xem xét hồ sơ, tài liệu và ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và có tổng các khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỉ đồng trở xuống tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Hợp tác xã nhỏ hoặc hợp tác xã siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hợp tác xã tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn phải được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ nợ có liên quan và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.

Người nộp đơn có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh về điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn.

Trong quá trình giải quyết theo thủ tục phục hồi rút gọn, nếu phát sinh tình tiết mới hoặc có căn cứ xác định doanh nghiệp, hợp tác xã không còn đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ việc sang giải quyết theo thủ tục phục hồi thông thường. 

Quyết định chuyển đổi thủ tục phải được thông báo kịp thời cho các chủ thể có liên quan theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết gồm 15 điều, được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua ngày 17/4/2026 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2026.

Vụ việc phục hồi, phá sản đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết xong thì áp dụng Nghị quyết này để tiếp tục giải quyết.

Không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này làm căn cứ đề nghị xem xét lại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

Các trình tự, thủ tục đã thực hiện, các văn bản đã ban hành theo đúng quy định của pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không căn cứ vào Nghị quyết này để thực hiện lại hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế.

P.V