Trên cơ sở rà soát toàn diện toàn bộ số vụ án và bị can tạm đình chỉ, đơn vị đã chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra hình sự và các đơn vị quân đội liên quan để phân tích nguyên nhân, nhận diện vướng mắc và đề ra giải pháp xử lý phù hợp, khả thi. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt cùng tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ Kiểm sát viên, đến nay, 100% vụ án và bị can tạm đình chỉ đã được giải quyết dứt điểm, không để tồn đọng hồ sơ, không phát sinh kéo dài qua nhiều kỳ, qua đó, tạo chuyển biến rõ nét, nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.
Một số vụ án tạm đình chỉ nổi bật đã được VKSQS khu vực 42 tiến hành giải quyết xong như:
Thứ nhất, vụ Nguyễn Văn P phạm tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” quy định tại Điều 133 BLHS năm 1985. Nội dung vụ án: “Nguyễn Văn P, nhập ngũ tháng 3/1994 tại Sư đoàn 968, Quân khu 4. Tháng 71997, Nguyễn Văn P được đơn vị giao nhiệm vụ làm nhân viên quản lý Đại đội 15, Trung đoàn 19, Sư đoàn 968. Ngày 13/5/1999, P lên tài chính Trung đoàn 19 nhận tiền ăn, tiền lương, phụ cấp và tiền bảo hiểm cho Đại đội 15 với tổng số tiền là 5.244.000 đồng, cụ thể: tiền ăn là 1.250.000 đồng; tiền lương, phụ cấp là 3.883.081 đồng và tiền bảo hiểm là 110.919 đồng. Sau khi nhận tiền về P không tiến hành cấp tiền lương, phụ cấp và tiền bảo hiểm cho các cá nhân trong đơn vị theo quy định mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên, đến tối ngày 13/5/1999 thì bỏ trốn khỏi đơn vị.
Ngày 17/5/1999, Ban điều tra hình sự Sư đoàn 968 ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Phương về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” và “Đào ngũ”. Tuy nhiên, bị can P đã bỏ trốn, ngày 26/5/1999, Ban Điều tra hình sự Sư đoàn 968 ra Quyết định Truy nã đối với Nguyễn Văn P. Ngày 22/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An bắt Nguyễn Văn P và đã giao Nguyễn Văn P cho Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 4, Quân khu 4.”
    |
 |
| Ngày 20/6/2025, Tòa án quân sự khu vực, Quân khu 4 đưa vụ án Nguyễn Văn P phạm tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” quy định tại Điều 133 BLHS năm 1985 ra xét xử. |
Thứ hai, vụ Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”, “Đào ngũ” quy định tại Điều 109, Điều 259 BLHS năm 1985. Nội dung vụ án: “Lê Văn Đ nhập ngũ ngày 25/02/1992 tại Trung đoàn 176, Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến ngày 9/3/1992, do buồn chán, không muốn tiếp tục phục vụ trong quân đội nên lợi dụng lúc đêm tối, đào ngũ rời khỏi đơn vị trở về sinh sống tại địa phương (thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế). Đến khoảng 17h, ngày 11/8/1997, tại thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP Huế) do có mâu thuẫn, tranh chấp đất đai nên Lê Văn Đ và Hoàng Linh N (trú tại: thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, TP Huế) xảy ra đánh nhau. Hậu quả: N bị thương với tỉ lệ tổn hại sức khỏe theo Kết luận giám định số 150/97 GĐYP là 20%.
Ngày 16/10/1997, Công an huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã khởi tố bị can đối với Đ về tội “Cố ý gây thương tích”, đối với N về tội “Gây rối trật tự công cộng”, sau đó ra Bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố Đ và N. Ngày 30/1/1998, VKSND huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Bản cáo trạng truy tố Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985, truy tố N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 198 BLHS năm 1985. Ngày 24/3/1998, Đ bị Ban CHQS huyện Phú Lộc chuyển giao cho Trại K95, Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế để xử phạt về hành vi đào ngũ với hình thức lao động bắt buộc. Trong thời gian chấp hành kỷ luật tại Trại K95, đến ngày 12/4/1998, do không muốn tiếp tục chấp hành kỷ luật, Đ đã lợi dụng đêm tối bỏ trốn.
Ngày 28/7/1998, Ban ĐTHS, Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn Đ về tội “Đào ngũ”; ngày 31/7/1998, ra Quyết định truy nã đối với Đ về tội “Cố ý gây thương tích” với lý do “sau khi gây án đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú”; ngày 22/11/1998, ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự về tội “Đào ngũ”, “Cố ý gây thương tích”. Ngày 19/3/2025, Lê Văn Đ đầu thú tại Cơ quan ĐTHS Khu vực 4, Quân khu 4. Ngày 20/3/2025, Cơ quan ĐTHS Khu vực 4, Quân khu 4 ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với Lê Văn Đ.”
Đến nay, cả 2 vụ án trên đã được VKSQS khu vực 42 truy tố và Tòa án quân sự khu vực, Quân khu 4 đưa ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Đáng chú ý, đây đều là những vụ án đã bị tạm đình chỉ trên 25 năm, hồ sơ cũ, chứng cứ hạn chế, nhân chứng thay đổi nơi cư trú, song đơn vị đã chủ động rà soát, kiên trì xác minh, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để phục hồi, hoàn thành việc giải quyết.
Kết quả trên phản ánh rõ nét hiệu quả của việc tăng cường kiểm sát định kỳ và đột xuất, đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc yêu cầu Cơ quan điều tra báo cáo tiến độ, cung cấp tài liệu và thực hiện các biện pháp xác minh trực tiếp tại đơn vị, nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi quản lý người liên quan. Đối với các vụ án tạm đình chỉ phát sinh do những nguyên nhân khách quan như bị can bỏ trốn VKSQS khu vực 42 đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn, lực lượng điều tra và chính quyền địa phương để tháo gỡ khó khăn, bảo đảm phục hồi giải quyết kịp thời ngay khi đủ điều kiện pháp luật. Không chỉ giải quyết dứt điểm các vụ án đang tạm đình chỉ, đơn vị còn nâng cao chất lượng lập hồ sơ, bảo đảm mọi quyết định tạm đình chỉ đều có căn cứ pháp luật, đúng thẩm quyền và tuân thủ đúng trình tự tố tụng.
Từ thực tiễn kết quả đạt được, VKSQS khu vực 42 đã rút ra nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu. Trước hết, việc quản lý hồ sơ tạm đình chỉ phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, có kế hoạch và được cập nhật liên tục, tránh tình trạng lơ là hoặc bỏ sót thông tin. Kiểm sát viên phụ trách hồ sơ cần nắm chắc diễn biến từng vụ án, chủ động đánh giá tình hình, nhận diện khó khăn và đề xuất giải pháp xử lý kịp thời, không để phát sinh khoảng trống thời gian giữa các hoạt động tố tụng. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với Cơ quan điều tra hình sự và các đơn vị quân đội đóng vai trò then chốt; chỉ khi các bên cùng vào cuộc, những vướng mắc phức tạp, đặc biệt là các vụ án kéo dài nhiều năm hoặc liên quan nhiều bị can, mới được tháo gỡ triệt để.
Một kinh nghiệm quan trọng khác là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu tạm đình chỉ, giúp kiểm sát viên theo dõi tiến độ hồ sơ thuận tiện, hạn chế nhầm lẫn, sai sót hoặc bỏ sót tài liệu. Việc này cũng giúp đơn vị dễ dàng tổng hợp số liệu, phục vụ kiểm sát định kỳ, báo cáo lãnh đạo và xây dựng cơ sở dữ liệu cho công tác đào tạo, rút kinh nghiệm. Đơn vị cũng chú trọng bồi dưỡng, đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên về thu thập chứng cứ, đánh giá tính pháp lý của các văn bản và hồ sơ phục hồi điều tra, nhằm đáp ứng yêu cầu công tác trong bối cảnh pháp luật tố tụng hình sự và các thông tư liên tịch được hoàn thiện, sửa đổi thường xuyên.
Kết quả giải quyết 100% án tạm đình chỉ là minh chứng rõ ràng cho sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm đổi mới của VKSQS khu vực 42. Trong thời gian tới, đơn vị tiếp tục phát huy những kinh nghiệm, biện pháp đã được rút ra, tăng cường kiểm sát chặt chẽ ngay từ khi quyết định tạm đình chỉ được ban hành, chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan để bảo đảm mọi vụ án được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, góp phần giữ vững kỷ luật Quân đội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp quân sự trên địa bàn.