leftcenterrightdel
 VKSND khu vực 3 trực tiếp xác minh thông tin liên quan đến tài sản.

Mới đây, VKSND khu vực 3, TP Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định khởi kiện vụ án dân sự công ích về “Tranh chấp  hợp đồng thuê nhà và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Đây là bước tố tụng nhằm bảo vệ lợi ích công sau quá trình Viện kiểm sát kiểm tra, xác minh, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và kiến nghị đơn vị được giao quản lý tài sản thực hiện quyền khởi kiện.

Hợp đồng hết hạn nhưng mặt bằng vẫn tiếp tục được sử dụng

Theo hồ sơ, nhà, đất tại số 299/18B đường L.T.K., phường P.T., TP Hồ Chí Minh là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo Quyết định số 941/QĐ-UB ngày 28/3/1979 của Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh và giao Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 quản lý, cho thuê theo quy định. Các khoản tiền thu được từ việc cho thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước, sau khi khấu trừ chi phí hợp lệ, được quản lý, nộp theo quy định đối với tài sản công.

Ngày 1/2/2001, được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân Quận 11 theo Quyết định số 93/QĐUB thì ông V.T.H là chủ hộ - Hộ Kinh doanh T.P. và Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 đã ký kết nhiều hợp đồng thuê nhà, đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh.

Ngày 3/7/2018, chủ hộ Hộ Kinh doanh T.P. và Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 ký Hợp đồng thuê nhà sản xuất kinh doanh số 41/15-2018 SXKD có nội dung: Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 cho Hộ Kinh doanh T.P. thuê căn nhà tại địa chỉ số 299/18B L.T.K., phường 15, Quận 11 (nay là phường P.T.), TP Hồ Chí Minh với giá thuê 22.843.043 đồng/tháng, thời hạn thuê từ ngày 27/6/2018 đến ngày 26/6/2019.

Ngày 28/6/2019, chủ hộ Hộ Kinh doanh T.P. và Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 tiếp tục ký Hợp đồng thuê nhà sản xuất kinh doanh số 41/15-2019 SXKD có nội dung: Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 cho Hộ Kinh doanh T.P. thuê căn nhà tại địa chỉ số 299/18B L.T.K., phường 15, Quận 11 (nay là phường P.T.), TP Hồ Chí Minh với giá thuê 74.087.845 đồng/tháng, thời hạn thuê từ ngày 27/6/2019 đến ngày 26/6/2020.

Ngày 28/8/2019, chủ hộ Hộ Kinh doanh T.P. và Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 tiếp tục ký kết Phụ lục Hợp đồng thuê nhà sản xuất kinh doanh số 41/15-2019 PL.SXKD có nội dung điều chỉnh giá thuê lên 84.335.497 đồng/tháng.

Thời hạn của Hợp đồng thuê nhà sản xuất kinh doanh số 41/15-2019 SXKD và Phụ lục Hợp đồng thuê nhà sản xuất kinh doanh số 41/15-2019 PL.SXKD hết hạn vào ngày 26/6/2020, các bên không thực hiện việc ký kết hợp đồng thuê mới nhưng chủ hộ Hộ Kinh doanh T.P. vẫn tiếp tục sử dụng mặt bằng.

Ngày 14/8/2022, ông V.T.H. qua đời. Hộ kinh doanh T.P. do ông H. làm chủ chấm dứt hoạt động kể từ ngày 3/1/2023. Ngày 6/1/2023, bà T.T.H. được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh với tên Hộ kinh doanh T.P. và tiếp tục sử dụng mặt bằng trên. Đến ngày 5/3/2023, bà H. có đơn xin tiếp tục thuê và kinh doanh tại địa chỉ này.

Hơn một năm sau, ngày 10/4/2024, bà H. có đơn xin trả mặt bằng. Cùng ngày Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 lập biên bản thu hồi, nhận bàn giao lại nhà, đất. Tuy nhiên, việc hoàn trả mặt bằng không đồng nghĩa các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản Nhà nước đã được giải quyết.

Theo Thông báo thanh toán tiền thuê nhà ngày 16/5/2024, Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 thông báo số tiền còn nợ là 1.259.281.501 đồng. Trong đó, khoản tiền 939.459.916 đồng phát sinh trong thời gian ông V.T.H. là chủ Hộ kinh doanh T.P., gồm nợ tháng 12/2018 hơn 18,54 triệu đồng; nợ năm 2019 hơn 364,49 triệu đồng và nợ năm 2020 hơn 556,41 triệu đồng. Khoản còn lại 319.821.585 đồng phát sinh trong thời gian bà T.T.H. trực tiếp tiếp tục sử dụng mặt bằng với tư cách chủ Hộ kinh doanh T.P. Cụ thể, tiền thuê từ tháng 6 đến tháng 12/2023 là hơn 216,12 triệu đồng; từ ngày 1/1/2024 đến ngày 10/4/2024 là hơn 103,69 triệu đồng.

Quá trình xác minh của Viện kiểm sát còn làm rõ một chi tiết đáng chú ý: tại biên bản ghi lời khai ngày 22/1/2026, bà T.T.H. không đồng ý thanh toán khoản nợ do ông V.T.H. để lại, nhưng xác nhận khoản 319.821.585 đồng phát sinh trong thời gian bà trực tiếp sử dụng mặt bằng và đồng ý thanh toán.

Bà H. cũng đề nghị được trả dần từ 1-2 triệu đồng/tháng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 không đồng ý và yêu cầu thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ.

Khi lợi ích công chưa được bảo vệ, Viện kiểm sát trực tiếp khởi kiện

Đối với khoản nghĩa vụ của người đã chết để lại, VKSND Khu vực 3 căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản được hưởng. Đồng thời, đối với nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tài sản, bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn; trường hợp tiếp tục chiếm hữu, sử dụng tài sản sau khi hết thời hạn thuê thì còn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong thời gian chậm trả.

Điểm đáng chú ý của vụ việc không chỉ nằm ở số tiền hơn 1,25 tỉ đồng chưa được thanh toán, mà còn ở tính chất của tài sản và nguồn tiền phải thu.

Theo VKSND Khu vực 3 TP Hồ Chí Minh, khoản tiền phát sinh từ quá trình thuê, sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước là khoản phải thu từ khai thác tài sản công. Việc chưa thu hồi đầy đủ khoản tiền này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước trong quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công.

Trước khi quyết định khởi kiện, Viện kiểm sát đã thực hiện nhiều bước nhằm khắc phục vi phạm. Cụ thể, trong quá trình kiểm tra, xác minh, VKSND Khu vực 3 đã ban hành Quyết định số 37/QĐ-VKS ngày 24/7/2026, yêu cầu Hộ kinh doanh T.P. chấm dứt hành vi vi phạm và thanh toán số tiền 1.259.281.501 đồng.

Đồng thời, Viện kiểm sát kiến nghị Công ty TNHH MTV DVCI Q.11 thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích công. Tuy nhiên, ngày 14/8/2026, đơn vị này có văn bản đề nghị VKSND Khu vực 3 tiếp tục thực hiện việc khởi kiện nhằm thu hồi khoản tiền phát sinh từ tài sản công.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, VKSND Khu vực 3 xác định vụ việc đáp ứng điều kiện khởi kiện vụ án dân sự công ích theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 09/2025.

Theo quyết định khởi kiện, VKSND Khu vực 3 yêu cầu TAND Khu vực 3 TP Hồ Chí Minh giải quyết, buộc những người thừa kế của ông V.T.H. thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền thuê mặt bằng còn nợ từ tháng 12/2018 đến năm 2020 là 939.459.916 đồng cho Công ty TNHH MTV DVCI Q.11, trong phạm vi di sản được hưởng theo quy định pháp luật.

Đối với bà T.T.H., với tư cách chủ Hộ kinh doanh T.P., Viện kiểm sát yêu cầu thanh toán khoản tiền còn nợ phát sinh trong thời gian bà trực tiếp tiếp tục sử dụng mặt bằng là 319.821.585 đồng. Tổng cộng, số tiền VKSND Khu vực 3 yêu cầu thu hồi thông qua vụ kiện là 1.259.281.501 đồng.

Việc khởi kiện lần này cho thấy Nghị quyết số 205/2025/QH15 đang được VKSND Khu vực 3 triển khai bằng những vụ việc cụ thể, gắn trực tiếp với tài sản và lợi ích của Nhà nước. Viện kiểm sát không dừng lại ở việc phát hiện, yêu cầu hay kiến nghị khắc phục vi phạm; khi chủ thể có quyền khởi kiện chưa thực hiện, cơ chế tố tụng đặc biệt mà Quốc hội giao cho ngành Kiểm sát được kích hoạt để lợi ích công được bảo vệ bằng một vụ án dân sự.

Số tiền 1.259.281.501 đồng là con số có thể định lượng nhưng phía sau khoản tiền ấy còn là yêu cầu lớn hơn: tài sản thuộc sở hữu Nhà nước phải được quản lý chặt chẽ, những khoản phải thu từ khai thác tài sản công phải được thu hồi đầy đủ và quyền lợi của Nhà nước không thể bị bỏ ngỏ chỉ vì thiếu một chủ thể đứng ra theo đuổi vụ việc đến cùng.

Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về việc “Thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công” có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và được thực hiện trong 3 năm tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh và Đắk Lắk.

Nghị quyết xác định rõ hai nhóm đối tượng trọng tâm mà VKSND được trao quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ, gồm: Nhóm dễ bị tổn thương: Trẻ em; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người mất năng lực hành vi dân sự; Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Nhóm lợi ích công cần được bảo vệ: Đầu tư công; Đất đai, tài nguyên, tài sản công khác; Môi trường, hệ sinh thái; Di sản văn hóa; An toàn thực phẩm, dược phẩm; Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Các bài viết liên quan Nghị quyết 205 được đăng tải tại: https://baovephapluat.vn/vien-kiem-sat-nhan-dan-bao-ve-loi-ich-cong-nguoi-yeu-the


Trân Định - Việt An