(BVPL) - Tin ông Cư trở về làm cho cả làng Đông Ấp xôn xao. Cư là cái tên bây giờ. Trước kia người làng quen gọi ông là Cu. Cu còn có biệt danh là “Thằng Ma” nữa. Ngày ấy, do uất hận với bọn Lý trưởng trong làng, anh chàng Cu mười lăm tuổi đầu quyết đi tìm thầy học võ để tìm cơ hội đánh trả lại bọn chúng, đoạt lại của cải cho bà con nghèo.
Khoảng hai năm gì đó thì Cu trở về làng. Người ta bảo Cu giỏi võ và có rất nhiều mưu mẹo. Cu đã định lấy cái gì của ai thì người đó chỉ có mất. Biệt hiệu “Thằng Ma” có từ ngày đó. Người ta kể: “Tết năm Kỷ Sửu, Ma vào nhà lão Lý trưởng làng Tân Ấp cua một mẻ ra trò. Lão Lý ra đình cúng giao thừa. Vợ bế con nhỏ nằm trong buồng. Ma lẻn vào nhà trước lúc mụ cài cửa. Khi thấy tiếng thở đều đều của hai mẹ con, Ma nhặt hết giò, bánh chưng, bánh mật và thịt luộc cho vào cái bao rất to rồi vác đi. Ra tới cánh đồng, chợt nhớ, ngày Tết, mẹ chưa có cái váy mới, Ma liền quay trở lại. Cái váy mới, mụ Lý mặc trên người. Ma đang đắn đo, tính toán thì chợt nhìn thấy nải chuối trên bàn thờ. Khoái quá, Ma chén một bữa thoả thuê rồi lấy một quả bóp nát, xát vào váy mụ Lý. Ma bấu vào chân đứa bé. Nó khóc thét lên. Mụ Lý thức giấc, tưởng con ỉa ra váy mình, bèn thay lót cho con, rồi vơ vội chiếc váy cũ cuối giường thay cho mình. Cái váy mới ném xuống gầm giường. Ma nhẹ nhàng vơ lấy…”.
 |
Ở trong làng, có anh lực điền gặp Ma đã thách: “Tớ có buồng cau sai lắm. Tối nay, cậu mà bẻ trộm được, tớ xin biếu luôn”. Ma gật đầu. Chiều, cơm nước xong, anh ta ra gốc cau ngồi. Tay cầm chiếc gậy. Chắc mẩm Ma chuyến này hết nói khoác. Ngồi ôm gốc cau tới nửa đêm, vừa lạnh, vừa muỗi, bọ cắn, anh ta sốt ruột buột miệng:
- Thằng Ma chỉ nói phét! Bố bảo cũng chẳng dám vào mà bẻ!
Bỗng trên ngọn cau có tiếng cười khanh khách:
- Em đây! Ngồi đây trước lúc bác ra cơ!
Anh lực điền huơ gậy:
- Có giỏi xuống đây!
Bỗng đánh rầm một cái ở bụi dong phía trước. Anh lực điền nhảy bổ tới, vụt lấy, vụt để đau cả tay. Ngay lúc đó, nhanh như chớp, một bóng người từ trên cây tụt xuống, vừa chạm đất đã vọt biến mất. Thì ra, Ma ném buồng cau xuống trước để lừa anh lực điền.
Bọn lý dịch trong làng nơm nớp. Chúng tức đến hộc máu, song chưa có dịp nào trị Ma. Chúng bảo nhau rình bắt quả tang một vụ để đưa Ma đi tù. Nhưng chúng chưa làm gì được thì tự nhiên Ma đã biệt tích. Chính mẹ Ma cũng không biết con đi đâu. Người thì bảo chắc là Ma đi ăn trộm ở một vùng xa xôi nào. Có người thề sống, thề chết đã nhìn thấy Ma đi cùng anh Ngỗi, người cộng sản đầu tiên của làng. Lý dịch trong làng nay dọa, mai đe bà mẹ goá, làm cho bà vừa lo sợ, vừa nhớ con, đổ bệnh rồi qua đời. Lâu dần người ta không nhắc đến Ma. Người nhớ đến thì lại tặc lưỡi: “Đi đêm lắm, thế nào cũng có ngày gặp ma”, không khéo, anh ta ăn trộm ở đâu đó, bị bắt, bị bỏ tù hoặc bị đánh chết rồi. Với lại bao nhiêu năm bom đạn, chắc gì Ma đã thoát và sống sót.
Bẵng đi mấy chục năm dài, người làng Đông Ấp bỗng thấy Ma xuất hiện. Ma khoẻ đẹp, gặp ai hỏi, Ma chỉ cười hì hì: “Vẫn đi ăn trộm!”.
Nhìn Ma, chẳng ai còn tin điều ấy. Ma bệ vệ trong bộ quân phục. Súng ngắn bên hông. Chiếc xe con đưa Ma ra tận nghĩa địa của làng. Ma ngồi hàng giờ bên ngôi mộ của người mẹ. Rồi buổi tối, ông Trưởng xóm tập hợp cả xóm đến sân hợp tác xã giới thiệu: “Đây là đồng chí Trần Cư, bộ đội về nghỉ phép”. Và, giới thiệu Cư kể cho bà con nghe câu chuyện ly kỳ thuở trước. Thì ra, chuyện Cư đi với anh Ngỗi là có thật. Chính Ngỗi đã thêm dấu vào chữ “ư” để đổi tên cho anh. Cái đêm Cư ra đi ấy là đêm anh Ngỗi giao cho Cư lấy tráp bạc của Lý Đương. Bấy giờ Lý Đương đang giữ tráp tiền Đông Dương, chuẩn bị nộp cho tri huyện. Không thể để tiền đó phục vụ cho bọn thực dân, đế quốc, tổ chức quyết định phải tịch thu để dùng vào việc in truyền đơn, mua vũ khí cho cách mạng. Ngỗi cùng Cư bàn cách đoạt nó. Ngay đêm ấy, Cư đến nhà Lý Đương. Không thể chui qua bờ tre vì tre dày đặc, rào gai đan xen nhiều tầng, phải vào lối cổng. Nóc cổng lại có 2 canh điền lực lưỡng canh gác. Trong nhà nhiều chó dữ, vào được cũng khó. Mới đây, tri huyện lại điều thêm về đây một cai lệ vì đang kỳ sưu thuế sợ có chuyện. Đêm đêm chúng tuần phu sục sạo thường xuyên. Chỉ còn một cách, lại phải trà trộn theo người làm vào nhà Lý Đương ngay lúc chập choạng tối. Sau đó, ẩn vào một chân đống rơm và làm cách nhử đàn chó lại gần cho quen hơi. Đêm khuya, ước chừng người gác ngủ đã say, Cư mới nhẹ nhàng mở cổng. Cư đến cửa ngôi nhà chính. Ngồi chầu cạnh cửa. Mấy con chó cũng ve vẩy đuôi ngồi cạnh. Cửa vẫn im ỉm. Lo quá, sáng người nhà nó phát hiện ra thì nguy. Cho tới ba giờ sáng thì người ở nhà Lý Đương dậy nấu cơm. Cửa vừa hé, một cái đầu vừa nhô ra, đã bị Cư chặt vào gáy đánh hự, lôi ra ngoài. Nhanh như chớp, Cư tiến vào sát đầu giường Lý Đương. Hắn gối đầu lên tráp bạc, không ngủ. Đợi đến gần sáng cũng không thấy hắn ngủ. Không còn cách nào khác, Cư vồ lấy đầu Lý Đương dập thật mạnh xuống tráp. Hắn ối một tiếng, mắt hoa, chân tay bủn rủn. Cư vồ tráp bạc vọt ra cửa, chạy ra sân, qua cổng, qua mấy ngõ ngoắt ngoéo. Khi Lý Đương nhận ra mất tráp bạc, thét người nhà đuổi theo thì Cư đã nhanh chân chạy mất.
Từ buổi ấy, Cư đã gia nhập vào đội quân thường trực, tham gia nhiều trận đánh tiêu diệt các cứ điểm của giặc.
Từ mặt trận của Đồng bằng Bắc bộ, Cư đã xung phong cùng đội quân Nam Tiến, vào hoạt động ngay trong lòng địch tại thành phố Sài Gòn.
Hai mươi năm trước, Cư đã ra đi từ con đường làng Đông Ấp bé nhỏ hoà vào dòng sông cách mạng lớn lao của đất nước và hôm nay trở về, Cư đã là một ông già ở tuổi lục tuần. Ông đã trở về với làng quê thân thương máu thịt của mình sau bao năm xa cách.
Đêm ấy, trong xóm nhỏ Đông ấp, những mái đầu lặng nghe ông Cư trò chuyện. Những câu chuyện thật giản dị, mộc mạc của người làng mình, xóm mình mà ly kỳ như những trang huyền thoại.
Nguyễn Kim Rẫn