"Bệ phóng" pháp lý từ Luật Thủ đô
Là đô thị đặc biệt, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia và đầu mối liên kết vùng, Hà Nội đã và đang phải đối diện áp lực lớn về dân số, giao thông, môi trường, nhà ở và hạ tầng xã hội. Song, một trong những rào cản đáng kể là hệ thống quy hoạch còn phân tán, nhiều tầng nấc, dẫn tới tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ và mất nhiều thời gian điều chỉnh.
Sự ra đời của Luật Thủ đô đã giải tỏa cơn khát thể chế kéo dài ấy. Luật không chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý rõ ràng về khu vực TOD mà còn tạo ra một "hành lang đặc thù" chưa từng có.
Theo đó, lần đầu tiên, Hà Nội được trao quyền chủ động quy hoạch không gian xung quanh các nhà ga metro và đề-pô đường sắt. Luật cho phép áp dụng các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và hạ tầng kỹ thuật riêng biệt, vượt qua các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thông thường đối với khu vực TOD. Điều này cho phép thành phố tối ưu hóa quỹ đất "vàng" xung quanh các tuyến metro để hình thành những tổ hợp đa chức năng cao tầng, trung tâm thương mại, văn phòng, nhà ở, công viên và không gian đi bộ.
    |
 |
| Khi Luật Thủ đô 2026 vận hành đã chính thức thiết lập hành lang pháp lý vượt trội, đặt nền móng quan trọng cho việc phát triển đô thị theo mô hình TOD. |
Hơn thế nữa, mạng lưới đường sắt đô thị theo mô hình TOD chính là chìa khóa để triển khai cấu trúc đô thị "đa cực, đa trung tâm" mà Quy hoạch chung Thủ đô hướng tới. Nhờ metro tốc độ cao, khoảng cách địa lý giữa khu vực nội đô lịch sử với các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái ở vành đai 3, vành đai 4 và vươn xa hơn nữa sẽ rút ngắn. Người dân hoàn toàn có thể sống ở các vùng ven với chi phí hợp lý, không gian xanh mát mà vẫn di chuyển vào trung tâm làm việc nhanh chóng, chính xác đến từng phút. TOD chính là công cụ hữu hiệu nhất để phân tán áp lực dân số ra khỏi lõi di sản, đồng thời đánh thức tiềm năng kinh tế ở những vùng đất mới.
Sự kết hợp giữa hành lang pháp lý từ Luật Thủ đô và mô hình phát triển TOD đang biến những ý tưởng trên bản vẽ thành hiện thực sinh động trên khắp các ngả đường Thủ đô. Mạng lưới đường sắt đô thị không chỉ còn là những tuyến giao thông riêng lẻ, mà đang kết nối chặt chẽ nội đô lịch sử với các đô thị vệ tinh.
TOD không chỉ tái cấu trúc hạ tầng giao thông mà còn tái cấu trúc không gian sống và văn hóa đô thị. Những khoảng không gian trước đây dành cho bãi đỗ xe cá nhân nay được trả lại cho công viên, quảng trường và không gian đi bộ. Văn hóa "đi bộ và sử dụng giao thông công cộng" đang từng bước thay thế thói quen phụ thuộc vào xe máy, kiến tạo nên một cộng đồng cư dân văn minh, hiện đại và khỏe mạnh.
Để phát huy hiệu quả của hệ thống giao thông thông minh, Hà Nội cần nhanh chóng hoàn thiện bộ tiêu chí chi tiết cho quy hoạch TOD, thiết lập mô hình quản lý vận hành tích hợp đủ thẩm quyền để điều phối các ngành từ giao thông, quy hoạch - kiến trúc, tài chính cho đến tài nguyên môi trường. Đồng thời, quá trình tái thiết đô thị xung quanh các nhà ga phải bảo đảm tính hài hòa, vừa hiện đại hóa không gian, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa đặc trưng của các khu vực dân cư hiện hữu, bảo đảm lợi ích bền vững của cộng đồng người dân tại chỗ.
Từng bước kiến tạo đô thị xanh, đáng sống
Một trong những nội dung được kỳ vọng tạo chuyển biến rõ nét là cơ chế phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng. Điều 12 Luật Thủ đô năm 2026 đặt nền móng cho việc phát triển đô thị theo mô hình TOD - phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng, lấy các tuyến đường sắt đô thị, metro làm trung tâm tổ chức không gian.
Theo đó, Hà Nội được trao quyền quy định các chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng khác với quy chuẩn thông thường để xây dựng các khu đô thị nén quanh nhà ga, ưu tiên không gian công cộng, cây xanh, hạn chế phụ thuộc phương tiện cá nhân.
    |
 |
| Luật Thủ đô 2026 đã mở ra không gian văn hiến, văn minh, hiện đại, giúp Hà Nội phát triển bền vững ngang tầm các thủ đô hàng đầu trong khu vực. |
Nói cách khác, thay vì phát triển đô thị dàn trải, Hà Nội có thể tổ chức lại không gian đô thị theo hướng “sống gần giao thông công cộng”, giảm áp lực lên đường bộ và hạn chế ùn tắc.
Đáng chú ý, Luật cũng cho phép Hà Nội có thêm nguồn lực tài chính từ việc khai thác giá trị tăng thêm của đất đai quanh các dự án giao thông, thu phí cải thiện hạ tầng, phí kết nối giao thông công cộng để tái đầu tư cho metro và hạ tầng đô thị. Đây được xem là cơ chế rất quan trọng bởi nhiều đô thị lớn trên thế giới đều phát triển thành công hệ thống giao thông công cộng nhờ tận dụng giá trị gia tăng từ đất đai.
Trong lĩnh vực giao thông, Điều 13 tạo cơ sở để Hà Nội chủ động hơn trong quản lý phương tiện, kiểm soát ùn tắc và cải thiện chất lượng môi trường. HĐND thành phố được trao quyền quy định chính sách hạn chế phương tiện cá nhân tại khu vực trung tâm, áp dụng phí giảm ùn tắc, phát triển vận tải công cộng khối lượng lớn, vận tải hàng không tầm thấp và hạ tầng logistics hiện đại.
Đặc biệt, lần đầu tiên Luật quy định rõ cơ chế xây dựng vùng phát thải thấp, cho phép Hà Nội từng bước hạn chế các phương tiện gây ô nhiễm, thúc đẩy chuyển đổi sang phương tiện sử dụng năng lượng sạch.
Không chỉ quản lý giao thông, Luật Thủ đô năm 2026 còn trao công cụ mạnh hơn cho Hà Nội trong bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải nhựa, xử lý rác thải theo chuỗi và hỗ trợ chuyển đổi các khu công nghiệp sinh thái.
Theo các chuyên gia môi trường, đây là cách tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển xanh, đưa Hà Nội từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình phát triển carbon thấp.